NGÔI NHÀ TRÁI TIM

Hãy cho - Hãy nhận - Hãy sống bằng cả con tim
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:29 pm

CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
Là một lĩnh vực ứng dụng, tâm lí học lâm sàng một mặt đem những kiến thức thu nhận được từ các nghiên cứu lí luận để ứng dụng vào thực tiễn. Mặt khác, các kết quả nghiên cứu thực tiễn của tâm lí học lâm sàng góp phần kiểm nghiệm, làm phong phú và thúc đẩy sự phát triển về mặt lí luận.
Trong các nghiên cứu của tâm lí học lâm sàng, phương pháp đóng vai trò rất quan trọng. Để tác động vào đối tượng, bắt đối tượng phải bộc lộ những thuộc tính, dấu hiệu cần nghiên cứu, mỗi nhà tâm lí học lâm sàng phải có trong tay những phương pháp/công cụ cần thiết. Điều này lại càng cần khi mà đối tượng nghiên cứu của các nhà tâm lí học lâm sàng nói riêng, tâm lí học nói chung lại là những hiện tượng tinh thần, những hiện tượng không thể nhìn thấy, sờ thấy.
Khi bàn về các phương pháp nghiên cứu từ góc độ lí luận có thể thấy có 2 ý. Thứ nhất: cơ sở lí luận của phương pháp. Như chúng ta đã biết, mỗi phương pháp được thiết kế đều dựa trên cơ sở lí luận nhất định. Ví dụ như cơ sở lí luận của các test phóng chiếu là phân tâm học, trắc nghiệm 16-PF dựa trên quan niệm về cấu trúc yếu tố nhân cách của Cattell.
Hai là: hệ thống lí luận mà chính nhà nghiên cứu lấy làm cơ sở. Việc một nhà nghiên cứu sử dụng test phóng chiếu cần phải nắm được lí thuyết phân tâm là điều cần thiết. Song như vậy không có nghĩa là nhà nghiên cứu chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện các lí luận của phân tâm về cơ chế phòng vệ nói riêng và lí thuyết phân tâm nói chung. Mỗi nhà nghiên cứu đều có những luận điểm mà họ lấy làm nền tảng cũng như những khía cánh lí luận mà họ muốn giải quyết thông qua kết quả nghiên cứu của mình.
Tâm lí học mac xit lấy triết học Mác Lê nin làm cơ sở lí luận. Dựa trên những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tâm lí học mac xít định ra những nguyên tắc phương pháp luận cho các nghiên cứu của mình. Những nguyên tắc này cũng chính là những nguyên tắc chỉ đạo cho các nghiên cứu của tâm lí học lâm sàng.
Những nguyên tắc phương pháp luận là cơ sở chung nhất để các nhà nghiên cứu tiến hành việc lựa chọn nhóm phương pháp hợp lí và tiến hành phân tích cứ liệu thu được một cách tối ưu. Mặt khác, đây cũng là cơ sở để chúng ta tiếp thu một cách có chọn lọc, có phê phán các quan điểm của các trường phái tâm lí lâm sàng khác nhau.
I. CÁC NGUYÊN TẮC PHƯƠNG PHÁP LUẬN
I.1. Nguyên tắc quyết định luận
Tâm lí học mác xít khẳng định các hiện tượng tâm lí của con người được quy định bởi các yếu tố bên ngoài, trước hết là yếu tố môi trường xã hội. Khi mới ra đời, con người mới chỉ đơn thuần là một tồn tại sinh học, một cơ thể sống. Bản thân cá thể người, nếu không được sống trong môi trường xã hội thì không bao giờ trở thành con người với đúng nghĩa của nó. Chỉ sống trong xã hội loài người, cá thể người mới có đủ điều kiện để trở thành con người. Những cái mà thế hệ người trước truyền lại được cho thế hệ người sau như kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo... không phải bằng con đường sinh học. Đứa trẻ phải học tập, từ cách sử dụng đồ chơi đến sử dụng các đồ dùng khác và sau này là học cách sử dụng các công cụ lao động; trẻ phải học cách đếm, cách viết v.v... Chính từ những hoạt động tích cực của mình, con người đã lĩnh hội "kinh nghiệm" của xã hội, của người khác và biến nó thành vốn liếng của riêng mình.
Như vậy nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta khi xem xét tâm lí người bệnh là tâm lí của một con người cụ thể. Phải phân tích những vấn đề tâm lí của họ trong mối quan hệ chặt chẽ với hoàn cảnh gia đình, nơi mà họ được sinh ra, lớn lên, được dạy dỗ. Đó có thể còn là gia đình mà trong đó họ đóng vai trò là người vợ/mẹ quán xuyến công việc hoặc là người chồng/cha, người có thể đang đảm trách vai trò trụ cột của gia đình.Trong trường hợp này cần đặc biệt lưu tâm đến mối quan hệ vợ chồng, kể cả sự sinh hoạt gần gũi, vai trò, quan niệm và sự ảnh hưởng của người bệnh đến giáo dục con cái.
Những mối quan hệ xã hội cũng có thể đóng vai trò rất đáng kể trong sự hình then và phát triển những vần đề tâm lí của người bệnh. Do vậy khi thăm khám tâm lí lâm sàng không thể bỏ qua việc tìm hiểu, xem xét các mối quan hệ nghề nghiệp của người bệnh: cương vị họ đang đảm trách và mối quan hệ với đồng nghiệp, với cấp trên và với cấp dưới; quan hệ bạn bè hiện có của họ.
Bao trùm lên tất cả, nguyên tắc này đòi hỏi chúng ta khi nghiên cứu tâm lí người bệnh là tâm lí của một con người cụ thể, trong những điều kiện, hoàn cảnh kinh tế- chính trị - xã hội - lịch sử cụ thể. Những gì mà các nhà tâm lí lâm sàng nước ngoài đã làm không thể đem áp dụng một cách máy móc, cứng nhắc lên con người Việt Nam. Do vậy khi nghiên cứu tâm lí người bệnh cũng cần phải chú ý đến những đặc điểm văn hoá, dân tộc vốn đa dạng và phong phú ở nước ta.
I.2. Nguyên tắc thống nhất tâm lí, ý thức, nhân cách với hoạt động
Nguyên tắc thống nhất tâm lí, ý thức, nhân cách với hoạt động đòi hỏi phải nghiên cứu tâm lí, nhân cách người bệnh dưới góc độ các hoạt động, hành động của họ. Tâm lí, ý thức và các phẩm chất nhân cách của con người được hình thành trong hoạt động và thông qua hoạt động. Không có hoạt động thì con người không thể có bất kỳ một hiện tượng tâm lí nào, dù là đơn giản nhất. Chúng ta chỉ có thể hiểu và giải thích một cách đúng đắn các hiện tượng tâm lí con người trong điều kiện coi chúng là sản phẩm của hoạt động.
Do vậy nghiên cứu tâm lí người bệnh không chỉ đơn thuần là sự ghi nhận những biến đổi, rối loạn các chức năng tâm lí, hoặc là “đo đạc” mức độ suy giảm của chúng, mà phải xem xét chúng như một hoạt động. Phải đi sâu phân tích lĩnh vực động cơ, quá trình tạo mục đích, mối quan hệ động cơ - mục đích, cách thức sử dụng công cụ, phương tiện hoạt động, sự biến đổi trong quá trình hoạt động... của chủ thể. Điều này cũng có nghĩa là phải đi sâu tiếp cận các cơ chế vận hành bên trong của trạng thái bệnh lí, tâm lí và nhân cách người bệnh.
Một điểm đáng lưu ý nữa là các hiện tượng tâm lí không tồn tại một cách độc lập với nhau, chúng luôn kết hợp với nhau thành một thể thống nhất. Do vậy khi chúng ta bóc tách một hiện tượng nào đó để nghiên cứu thì sự bóc tách như vậy chỉ mang tính tương đối. Ví dụ, chúng ta nghiên cứu quá trình tư duy thì cũng cần phải nhớ rằng tư duy có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lí khác, ví dụ như trí nhớ, cảm xúc.
I.3. Nguyên tắc phát triển
Có thể xem các hiện tượng tâm lí là những hoạt động, đồng thời cũng có thể xem chúng là những quá trình. Do vậy khi nghiên cứu bất kỳ một hiện tượng tâm lí nào, chúng ta cũng phải nghiên cứu trong sự vận động và phát triển của chúng.
Nguyên tắc nghiên cứu hiện tượng tâm lí trong trạng thái động có một ý nghĩa đặc biệt trong lâm sàng. Một mặt, chúng ta phải thấy được các hiện tượng tâm lí luôn vận động và phát triển theo qui luật nhất định, ở mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ có những nét riêng. Ví dụ, nghiên cứu tư duy ở người lớn tuổi khác với ở trẻ nhỏ. Do vậy khi nghiên cứu những biến đổi tư duy ở trẻ em phải tính đến những đặc điểm tư duy của trẻ trong điều kiện phát triển bình thường. Mặt khác cũng phải thấy rằng sự phát triển bệnh lí của các hiện tượng tâm lí không phải đơn thuần là một sự mất mát, hao hụt về lượng hoặc là sự “thoái lui” theo bậc thang phát triển. Không có một quy luật chung nào cho các rối loạn/biến đổi tâm lí. Sự phát triển các hiện tượng tâm lí bất thường là kết quả tác động qua lại của nhiều yếu tố: cơ chế phát triển bình thường và cơ chế bệnh lí, cơ chế bù trừ của chủ thể và những tác động từ phía môi trường bên ngoài v.v..
Các hiện tượng tâm lí của con người hoàn toàn không phải là những hiện tượng riêng lẻ, tách rời nhau mà chúng nằm trong mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau. Do vậy sự rối loạn/biến đổi ở một hiện tượng tâm lí này đồng thời cũng ảnh hưởng đến chức năng tâm lí khác. Ví dụ, trầm cảm lo âu làm ảnh hưởng đến tính linh hoạt, hiệu quả của tư duy.
I.4. Nguyên tắc nghiên cứu tâm lí kết hợp với sinh lí
Đối tượng nghiên cứu của tâm lí lâm sàng là các rối nhiễu tâm lí. Tuy nhiên cũng không nên quên rằng các hiện tượng không tồn tại một cách chung chung mà tồn tại ở một cơ thể con người cụ thể. Nói một cách khác, các hiện tượng tâm lí con người có liên quan mật thiết với các quá trình sinh học nói chung và các quá trình sinh lí thần kinh nói riêng diễn ra trong cơ thể.
Mối tác động qua lại giữa các hiện tượng tâm lí và sinh lí của người bệnh diễn ra khá phức tạp. Bất kì một rối nhiễu tâm lí nào cũng đều ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần kinh trung ương ở các mức độ khác nhau. Đến lượt mình, hệ thần kinh, với vai trò là người điều hành, cũng có thể gây ra những ảnh hưởng đến hoạt động của các hệ thống khác, ví dụ hệ miễn dịch, hệ nội tiết.
Mặt khác, bất kỳ một bệnh nào trong cơ thể cũng đều ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thần kinh và qua đó mà ảnh hưởng, làm biến đổi tâm lí người bệnh. Đó là chưa kể trường hợp khu vực bị tổn thương lại chính là hệ thần kinh trung ương. Những ví dụ như: loạn thần sau chấn thương sọ não, u não hoặc những trường hợp loạn thần nội sinh khác.
Như vậy có thể dễ dàng nhận thấy sự khép kín của một vòng tròn: khởi đầu có thể là một bệnh cơ thể hoặc bệnh của hệ thần kinh trung ương, bệnh làm biến đổi tâm lí người bệnh, những biến đổi này có thể làm cho bệnh diễn biến phức tạp thêm. Cũng có thể khởi đầu là một stress tâm lí, stress kéo theo một số thay đổi chức năng sinh lí như: ăn không ngon dẫn đến tiêu hoá kém, ngủ kém, làm người mệt mỏi. Những bất an về cơ thể càng làm xấu đi tình trạng của các chức năng tâm lí, ví dụ như nhớ kém, tư duy chậm chạp v.v..
Trong vòng tròn như vậy, nếu xem xét cắt ngang ở một thời điểm nào đó thì không dễ dàng gì có thể xác định được đâu là nguyên nhân và đâu là hậu quả, bởi lẽ tại thời điểm đó, một yếu tố có thể là hậu quả của một yếu tố khác song nó cũng có thể lại là nguyên nhân của các vấn đề khác nữa. Vì lẽ đó, chúng ta không thể tách các nghiên cứu tâm lí người bệnh ra khỏi những vấn đề về sinh lí, sinh lí bệnh, đặc biệt là các hoạt động sinh lí thần kinh cấp cao.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:29 pm

II. CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH MỘT BUỔI KHÁM TÂM LÍ LÂM SÀNG
II.1. Chuẩn bị
• Xác định mục đích khám
Phải xác định rõ mục đích và lí do tiến hành thăm khám tâm lí. Mục đích thường gặp nhất là đánh giá/chẩn đoán tâm lí. Trong trường hợp này cần phải xác định rõ việc đánh giá/chẩn đoán tâm lí được thực hiện theo yêu cầu của ai, yêu cầu bằng văn bản chính thức hay không chính thức. Đối với những trường hợp chẩn đoán tâm lí theo yêu cầu của một tổ chức, ví dụ, theo yêu cầu của hội đồng giám định sức khoẻ, thì yêu cầu như vậy phải được thể hiện bằng văn bản. Trên cơ sở yêu cầu như vậy, kết quả của chẩn đoán tâm lí cũng phải được trả lời bằng văn bản.
Một mục đích khác cũng thường gặp trong thực tiễn lâm sàng là khám tâm lí nhằm đánh giá sự cải thiện tình trạng tâm lí trong quá trình trị liệu nói chung, trong đó có cả chính trị liệu tâm lí. Cũng có trường hợp, khám tâm lí được thực hiện với góc độ là một hình thức trị liệu tâm lí.
Việc xác định rõ mục đích khám sẽ quy định việc lựa chọn những phương pháp dự định tiến hành đồng thời cũng để cho nhà tâm lí thấy được trách nhiệm của mình trong buổi khám tâm lí.
• Thu thập các tư liệu cần thiết
Trước khi thực hiện buổi khám tâm lí, chúng ta cần biết người mà chúng ta sẽ làm việc là người như thế nào? Nói cách khác, nhà tâm lí cần phải nắm được những đặc điểm về sự phát triển thể chất, tâm lí và xã hội qua từng thời kì của người bệnh.
Những vấn đề cần quan tâm về sự phát triển thể chất: đặc điểm thời kì mang thai của người mẹ; cân nặng khi sinh và là con thứ mấy; sinh đủ tháng hay không; khi sinh có phải can thiệp ngoại khoa gì không; sự phát triển về chiều cao và cân nặng qua từng thời kì; các bệnh nặng đã mắc phải, đặc biệt lưu ý đến những bệnh hoặc tai nạn có liên quan đến hệ thần kinh trung ương, ví dụ như sốt cao, co giật, ngã...
Cần phải thu thập chi tiết các thông tin liên quan đến tình trạng bệnh mà người bệnh đang điều trị (nội trú hoặc ngoại trú): thời gian và những đặc điểm khởi phát; diễn biến và kết quả can thiệp qua các thời kì; tình trạng hiện tại…
Những vấn đề tâm lí cần quan tâm: sự phát triển tâm – vận động, ngôn ngữ thời nhỏ, các đặc điểm về hứng thú, sở thích, khả năng, năng lực học tập hoặc chuyên môn nghiệp vụ, đặc điểm đời sống tình cảm.
Những vấn đề về tâm lí – xã hội: đặc điểm quan hệ của người bệnh trong gia đình và các mối quan hệ với bạn bè, đồng nghiệp.
Toàn bộ những tư liệu này được thu thập từ các nguồn thông tin khác nhau như: từ phía gia đình và bạn bè, đồng nghiệp của người bệnh, từ các tài liệu về người bệnh hoặc từ chính người bệnh và phải được thể hiện trong hồ sơ tâm lí. Lẽ đương nhiên hồ sơ tâm lí không thể hoàn thiện được ngay trước khi khám. Hồ sơ cần được bổ sung theo tiến trình khám cũng như trị liệu sau này.
• Chuẩn bị các phương pháp, phương tiện cần thiết
Trên cơ sở mục đích khám và những tư liệu về người bệnh, nhà tâm lí cần phải dự kiến những phương pháp cần làm và phải chuẩn bị trước. Ví dụ, nếu khám để phục vụ chẩn đoán phân biệt giữa tâm thần phân liệt với một trạng thái tâm căn thì cần phải lựa chọn những phương pháp khảo sát sâu về tư duy, cảm xúc và nhân cách như: pictogram, so sánh khái niệm, TAT, Rorschach. Nếu chỉ nhằm đánh giá mức độ thuyên giảm của trầm cảm, có thể dùng Thang Hamilton và test Beck.
Khi lựa chọn các phương pháp cần phải lưu ý rằng để nhằm phát hiện một vấn đề nào đó thì không nên chỉ lựa chọn duy nhất một phương pháp. Có những trường hợp, hiện tượng tâm lí cần nghiên cứu có thể được bộc lộ rõ ở phương pháp này mà lại không rõ ở phương pháp khác. Do vậy cần phải lựa chọn các phương pháp có thể bổ sung cho nhau để khẳng định kết quả.
Thông thường mỗi phương pháp đều cần có một số mẫu biểu, vật dùng, ví dụ giấy và bút màu cho người bệnh vẽ hình trong phương pháp pictogram hoặc trong những phương pháp vẽ tranh phóng chiếu. Do vậy bên cạnh việc chuẩn bị các mẫu biên bản, cũng cần phải lưu ý đến những vật dùng cần thiết cho buổi khám.
Trong trường hợp có nhu cầu sử dụng các thiết bị nghe nhìn, ví dụ như ghi âm hoặc dùng camera ghi hình thì cần phải chuẩn bị trước, kiểm tra, nếu cần thì phải làm thử để đảm bảo chất lượng của hình ảnh và âm thanh.
• Dự kiến thời gian, địa điểm
Sau khi đã lập được hồ sơ, nhà tâm lí cần phải dự kiến thời gian và địa điểm để thực hiện buổi thăm khám tâm lí. Thông thường tại các phòng khám tâm lí, đây là bước lên lịch khám hoặc hẹn người bệnh. Trong một số trường hợp, khám tâm lí không thể thực hiện được tại phòng khám tâm lí thì nhà tâm lí phải lựa chọn địa điểm sao cho buổi khám có thể đạt được kết quả cao nhất. Ví dụ, trường hợp phải khám tâm lí tại trường học. Khi đó phải chuẩn bị phòng sao cho đủ về ánh sáng, không bị ồn, trang trí nội thất không có những gì “bắt mắt” dễ làm phân tán chú ý của khách thể, không có người ra vào trong lúc khám tâm lí.
II.2. Giai đoạn thực hiện
• Chuẩn bị tâm lí cho người bệnh
Khi bước vào phòng khám tâm lí, người bệnh thường có những tâm thế khác nhau. Trong suy nghĩ của nhiều người bệnh, nhà tâm lí cũng là một bác sĩ, bác sĩ tâm lí. Do vậy họ cũng có những tâm thế khác nhau. Do vậy trước khi thực hiện các phương pháp, nhà tâm lí cần phải có bước chuẩn bị tâm lí cho người bệnh. Công tác chuẩn bị tâm lí thường được thực hiện dưới dạng hỏi chuyện lâm sàng (xem thêm trong mục hỏi chuyện trong khám tâm lí lâm sàng). Chỉ khi thấy người bệnh đã được chuẩn bị về tâm lí, khi đó nhà tâm lí mới thực hiện bước tiếp theo.
• Thực hiện các phương pháp theo dự kiến
Thông thường người bệnh được đề nghị thực hiện các phương pháp đã dự kiến. Lời đề nghị được đưa ra phải tự nhiên, đúng mực, không mang tính mệnh lệnh cũng không được mang tính năn nỉ. Việc thực hiện các phương pháp vừa phải đảm bảo theo đúng yêu cầu của bài, vừa phải có được tính linh hoạt. Trong một buổi khám tâm lí, tuỳ theo mục đích mà có thể có nhiều hoặc không nhiều các bài trắc nghiệm. Làm trắc nghiệm phải đúng theo kĩ thuật đòi hỏi. Thường để làm tốt được các trắc nghiệm, nhà tâm lí cần phải có các kĩ năng: kĩ năng theo dõi thời gian, theo dõi các phản ứng cảm xúc, hành vi của người bệnh và các kĩ năng giao tiếp khác.
Đối tượng của nhà tâm lí là người có các vấn đề về tâm lí (và thường không chỉ có các vấn đề về tâm lí). Do vậy tình trạng sức khoẻ, cả về sức khoẻ tâm lí và thể chất của họ đều có thể có những thay đổi thất thường. Trạng thái sức khoẻ lúc đến khám có thể không giống với lúc mà nhà tâm lí dự kiến kế hoạch làm việc. Chính vì vậy, trong những trường hợp cần thiết, nhà tâm lí phải điều chỉnh chương trình và cả nội dung làm việc của mình.
Sau khi khám, nhà tâm lí cần làm ngay việc hoàn thiện các biên bản. Trong quá trình khám, do phải cùng một lúc theo dõi tiến trình thực hiện bài tập, các phản ứng cảm xúc, những nhận xét, bàn luận của người bệnh và theo dõi thời gian nên có những chỗ nhà tâm lí không kịp ghi chép mọi việc. Do vậy ngay sau khi tiễn người bệnh, nhà tâm lí phải ghi chép bổ sung những chỗ chưa ghi hoặc viết tắt. Đặc biệt lưu ý, ghi đầy đủ, nguyên văn những nhận xét của người bệnh và các phản ứng cảm xúc kèm theo. Ngay bên cạnh đó có thể ghi nhận xét, nhận định sơ bộ của mình về các hành vi, cảm xúc của người bệnh.
• Phân tích kết quả
Phân tích thường bắt đầu từ việc xử lí các kết quả. Trước hết là hoàn thiện các trắc nghiệm: bài tập được bao nhiêu điểm, quy ra chuẩn, nếu có, là bao nhiêu. Ví dụ, theo test Raven người bệnh có bao nhiêu câu trả lời đúng, đối chiếu với bảng phân phối kì vọng có đạt yêu cầu không và nếu đạt thì tương ứng với số điểm đó, IQ khoảng bao nhiêu.
Thực chất một buổi khám tâm lí là buổi thực nghiệm. Do vậy các kết quả cần phải được phân tích một cách tổng thể. Kết quả của một phương pháp nào đó, cho dù là trắc nghiệm có độ hiệu lực cao, cũng không thể là của riêng hiện tượng tâm lí đó. Ví dụ, kết quả trắc nghiệm trí nhớ không có nghĩa rằng nó phản ánh một hoặc một số khía cạnh nào đó của một trí nhớ thuần khiết. Luôn lưu ý rằng trí nhớ còn chịu sự chi phối của cảm xúc, tư duy...Bên cạnh đó, như các nhà tâm lí học Xô viết (Zeygarnik B.V., 1985; Rubinstein X.Ia., 1970) đã nhấn mạnh, mỗi người, cho dù đó là người khoẻ mạnh hay là những người có các vấn đề về tâm lí, khi thực hiện các bài tập tâm lí đều có những động cơ, mục đích nhất định. Một người, khi mà cố chứng tỏ rằng những vấn đề của mình là rất trầm trọng, sẽ khác với người đánh giá không đúng mức tình trạng sức khoẻ tâm lí của mình.
Phải phân tích và lí giải các kết quả thu được trong mối quan hệ nhân quả. Trong quá trình phân tích có thể có những khía cạnh của giả thuyết chưa được khẳng định hoặc bác bỏ thì khi đó cần phải chuẩn bị tiếp cho buổi khám tiếp theo. Có thể lựa chọn bổ sung thêm phương pháp khác hoặc phiên bản khác của trắc nghiệm đã làm để có thêm cứ liệu. Mặt khác, trong quá trình hỏi chuyện cũng như thực nghiệm, nhà tâm lí có thể phát hiện thêm những vấn đề cần được trả lời, ví dụ về mối quan hệ vợ chồng. Khi đó cần phải xác định là sẽ tham khảo thêm tư liệu từ nguồn nào hoặc có thể hỏi thêm người khác để có câu trả lời xác đáng.
• Bổ sung
Thường khám tâm lí cho một người bệnh nên làm 2 buổi trở lên. Nếu sau khi tham khảo thêm tư liệu, thấy có vấn đề nào đó cần làm sáng tỏ thì có thể chỉ định thêm phương pháp. Cũng có thể đơn thuần là một buổi nữa, khi mà trong buổi trước không đủ thời gian cho người bệnh làm bài. Nói chung một buổi khám tâm lí chỉ nên từ 1 giờ đến 1 giờ rưỡi (nếu kéo dài 1 giờ rưỡi thì cần phải có khoảng nghỉ giải lao giữa buổi). Trong khi đó có nhiều các phương pháp mà nếu mới chỉ thực hiện riêng nó đã hết khoảng 30 –45 phút. Đó là chưa kể trạng thái tâm lí của người bệnh lúc làm thực nghiệm.
II.3. Giai đoạn kết thúc
Khám tâm lí cho một trường hợp thường được kết thúc bằng việc nhà tâm lí trình bày kết quả. Thông thường đó là một bản kết luận chẩn đoán tâm lí hoặc là một bản đánh giá tâm lí.
Khám tâm lí có thể được tiến hành theo yêu cầu của một tổ chức (Hội đồng giám định, Hội đồng tuyển chọn, toà án...) hoặc một chuyên gia có thẩm quyền (Hiệu trưởng nhà trường, bác sĩ điều trị, luật sư...). Khi đó kết quả cần phải được trình bày dưới dạng một bản kết luận tâm lí. Nội dung của kết luận tâm lí bao gồm một số mục chính:
• Phần thủ tục hành chính
Ghi những nét chính về lí lịch của thân chủ/người bệnh như: họ và tên, năm sinh, giới, trình độ văn hóa, nghề nghiệp...
• Phần nội dung
-Tóm lược sự phát triển thể chất và tâm lí qua từng thời kì và những vấn đề chính để đưa đến chẩn đoán tâm lí
- Kết quả nghiên cứu
Các phương pháp đã sử dụng
Kết quả của từng phương pháp
Phân tích các kết quả
Nhận định về chẩn đoán tâm lí và biện luận chẩn đoán
• Kết luận chung
Chẩn đoán tâm lí
Kiến nghị hướng giải quyết theo yêu cầu của bên đề nghị tiến hành chẩn đoán tâm lí
• Một số điểm cần lưu ý khi viết kết luận tâm lí
- Văn phong khoa học, rõ ràng, mạch lạc.
- Phân tích, biện luận chặt chẽ, có dẫn chứng.
- Nêu rõ ý kiến của mình (trên cơ sở kết quả thăm khám tâm lí) đối với bên yêu cầu thực hiện chẩn đoán: bác sĩ điều trị, luật sư, hội đồng giám định....
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:30 pm

III. HỎI CHUYỆN LÂM SÀNG
III.1. Thuật ngữ
Nhiều tài liệu tâm lí học nói chung, tâm lí lâm sàng nói riêng ở trong nước ta thường sử dụng thuật ngữ phỏng vấn. Cũng trên cơ sở tham khảo các tài liệu nước ngoài nên phỏng vấn được chia làm 3 cấp độ: phỏng vấn có cấu trúc, phỏng vấn bán cấu trúc và phỏng vấn không cấu trúc. Phỏng vấn có cấu trúc là phỏng vấn trong đó các câu hỏi đã được định sẵn, trình tự câu hỏi cũng đã được quy định. Do vậy với phỏng vấn có cấu trúc, nghiệm viên hoặc bất kì một kĩ thuật viên nào cũng đều có thể thực hiện được sau khi có hướng dẫn. Phỏng vấn bán cấu trúc là phỏng vấn được thực hiện theo những vấn đề chính đã định trước. Tuỳ theo từng trường hợp mà nghiệm viên/nhà tâm lí đặt câu hỏi cho phù hợp để thu được các thông tin cần thiết. Phỏng vấn không cấu trúc/tự do được thực hiện trong trường hợp mà nhà tâm lí chưa biết vấn đề của người bệnh là ở chỗ nào, cần phải hỏi để xác định.
Trong tiếng Việt cũng có những từ khác nhau có nội hàm gần nhau: trò chuyện, phỏng vấn, toạ đàm, hỏi chuyện. Tuy nhiên cũng có thể thấy mỗi từ có một sắc thái khác nhau. Ngoại trừ những phương pháp phỏng vấn đã được thiết kế chặt chẽ, được xây dựng thành thang đo, thuật ngữ hỏi chuyện/hỏi chuyện lâm sàng có lẽ gần với phỏng vấn bán cấu trúc và phù hợp hơn trong thăm khám tâm lí lâm sàng. Trong trò chuyện, vị thế và tính tích cực của cả 2 bên là ngang nhau, người này có quyền đặt câu hỏi cho người kia và ngược lại. Mặt khác, chủ đề của trò chuyện thường là không xác định, trò chuyện có thể chuyển từ chủ đề này sang chủ đề khác, tuỳ theo tình huống và ý muốn của mỗi người.
Trong hỏi chuyện lâm sàng, vai trò chủ động phải thuộc về nhà tâm lí: chủ động vào câu chuyện, chủ động trong việc đặt câu hỏi, tìm hiểu, xác định vấn đề. Mỗi một trường hợp khám tâm lí lâm sàng đều có những nét riêng cho nên cũng không có bộ câu hỏi phỏng vấn nào được thiết kế sẵn để dùng cho mọi trường hợp khám tâm lí.

III.2. Hỏi chuyện trong khám tâm lí lâm sàng
Hỏi chuyện đóng vai trò rất quan trọng trong thực hành tâm lí lâm sàng. Nó có thể là phương pháp chủ đạo, ví dụ như trong nghiên cứu trường hợp. Mặt khác, cùng với quan sát, hỏi chuyện luôn đồng hành với các phương pháp khác trong quá trình thăm khám tâm lí lâm sàng. Khác với phỏng vấn (theo nghĩa hẹp) hỏi chuyện trong thăm khám tâm lí lâm sàng không chỉ quan tâm về nội dung câu hỏi, câu trả lời mà còn cần phải chú ý tới cách hỏi và cách trả lời.
III.2.1. Yếu tố thông tin trong hỏi chuyện lâm sàng
Thông tin từ phía người bệnh mà nhà tâm lí cần phải xử lí có thể xem như ở cả 3 cấp độ: nội dung câu chuyện (người bệnh kể về cái gì?); cách thức kể (người bệnh nói như thế nào?) và mục đích của câu chuyện (Tại sao lại nói chuyện đó?).
• Nội dung câu chuyện
Hỏi chuyện lâm sàng trước hết là nhằm thu thập thông tin về người bệnh. Việc đặt câu hỏi của nhà tâm lí không thể như là buổi hỏi cung và nó cũng không giống với buổi phỏng vấn tuyển chọn nhân sự. Câu hỏi mà nhà tâm lí đưa ra không được rập khuôn, cứng nhắc, cách hỏi phải tự nhiên bởi đây là buổi hỏi chuyện.
Theo Maloney và Ward (1976), có 5 dạng câu hỏi mà nhà tâm lí có thể sử dụng trong thăm khám tâm lí:
- Câu mở. Câu mở là câu tạo cho người bệnh phạm vi rộng để trả lời. Ví dụ: “Bây giờ anh có thể kể cho tôi nghe mọi việc diễn ra như thế nào?”
- Câu cụ thể là dạng câu đi sâu, cụ thể về một sự kiện, một chi tiết nào đó.
- Câu sàng lọc: nhằm xác định rõ hơn ý kiến của người bệnh, ví dụ: “Như vậy là anh cảm thấy…”.
- Câu đối lập: chỉ ra sự không nhất quán trong câu chuyện của người bệnh: “Nhưng lúc nãy hình như anh nói là.”
- Câu trực tiếp. Một khi quan hệ đã được xác lập, người bệnh đã có trách nhiệm với đối thoại, những câu hỏi trực tiếp cũng có thể hữu ích, ví dụ: “Chị đã nói với anh ấy như thế nào khi anh ấy phản đối sự lựa chọn của chị?”.
Việc lựa chọn câu hỏi dạng nào là tuỳ vào từng tình huống cụ thể. Mặt khác, nhà tâm lí cần phải lưu ý đến cả ngữ điệu, nhịp điệu trong quá trình hỏi chuyện sao cho thực sự “chinh phục” người bệnh. Muốn vậy, như C. Rogers đã nhắc nhở, nhà tâm lí phải thực sự chăm chú, quan tâm, kiên nhẫn, thấu hiểu những vấn đề mà người bệnh kể.
• Cách thức kể chuyện
Trong quá trình hỏi chuyện lâm sàng, nhà tâm lí luôn phải xử lí thông tin tức thời để có thể điều chỉnh, thay đổi chiến thuật thăm khám. Ngoài thông tin mà nội dung của câu chuyện mà người bệnh kể, cách thức kể cung cung cấp nhiều thông tin có giá trị. Ví dụ, cũng là sự phàn nàn về đau đầu, mất ngủ, giảm sút khả năng làm việc nhưng những phàn nàn đó được kể với một giọng điệu đều đều, nét mặt khá thờ ơ của một trường hợp tâm thần phân liệt khởi đầu sẽ khác với cũng phàn nàn như vậy nhưng được trình bày với vẻ mặt đau khổ, mệt mỏi của một trường hợp trầm cảm tâm căn.
Như vậy có thể nói nhà tâm lí lâm sàng cần chú ý đến tất các những yếu tố ngôn ngữ và phi ngôn ngữ trong giao tiếp của người bệnh: ngoài nội dung ngôn ngữ còn chý ý đến cường độ (nói nhỏ hẳn đi); đến nhịp độ (dồn dập hay chậm rãi). Thậm chí khoảng lặng trong khi nói cũng có thể cung cấp thông tin về sự xúc động hay né tránh vấn đề. Các yếu tố phi ngôn ngữ như: nét mặt, cử chỉ cũng không thể bỏ qua.
III.2.2. Yếu tố trợ giúp đánh giá[
Việc theo dõi người bệnh thực hiện các bài tập trong quá trình cũng hết sức linh hoạt. Nếu như đó là một bài trắc nghiệm có các yêu cầu nghiêm ngặt thì nên để cho người bệnh tập trung làm. Nếu bài tập được thực hiện dưới góc độ là một bài tập thực nghiệm hoặc là một bài trắc nghiệm nhưng không quá khắt khe về thời gian thì nhà tâm lí lâm sàng nên có các câu hỏi để làm sáng tỏ những chi tiết cần thiết.
Ví dụ. Test Raven nhằm đo chỉ số trí tuệ. Tuy nhiên không nên rập khuôn một cách máy móc, để mặc cho người bệnh làm sau khi có hướng dẫn. Cần phải theo dõi tiến trình thực hiện của người bệnh. Nếu thấy người bệnh bắt đầu làm sai thì có thể đặt câu hỏi để làm sáng tỏ nguyên nhân: do kém tập trung hay do chưa hiểu rõ cách làm. Khi đó các câu hỏi được đưa ra ở các mức độ khác nhau:
- Anh vừa nói là hình số mấy? (Không phải là chúng ta không nghe thấy câu trả lời mà hỏi lại chính là nhằm xác định xem người bệnh có tập trung hay không và một lần nữa họ có dịp xem lại lựa chọn của mình).
- Theo anh là hình số 5? Đã đúng chưa? ( Vừa là câu hỏi lại vừa là sự gợi ý ở mức độ nhẹ. Nếu người bệnh lựa chọn lại chính xác câu trả lời thì bài tập lại được tiếp tục. Nếu lại lựa chọn sai thì khi này mới nên đưa ra câu hỏi-gợi ý).
- Anh xem lại xem, có lẽ hình đó chưa đúng đâu.
- Theo tôi là hình số...cơ.
- Tại sao anh lại lựa chọn hình...
- Tôi nói hình đúng phải là hình số...
Như vậy các câu hỏi đóng vai trò trợ giúp. Trợ giúp cho người bệnh thực hiện bài tập song về thực chất chính là trợ giúp nhà tâm lí lâm sàng có thêm thông tin về một số khía cạnh tâm lí của người bệnh. Như trường hợp trên, việc chỉ ra cụ thể đáp án đó giúp nhà tâm lí đánh giá xem liệu người bệnh có khả năng vận dụng hiểu biết đó để làm tiếp hay không, họ có khả năng tự phê phán bản thân (nhận thấy mình làm sai) hay lại quay ra phê phán thực nghiệm.
III.2.3. Yếu tố trị liệu
Sau khi thực hiện xong các bài tập, có thể xuất hiện tình huống người bệnh tỏ ra quan tâm quá mức đến kết quả thực hiện. Họ hỏi xem như vậy đã tốt chưa, họ làm có kém không, buổi thăm khám này để làm gì, kết qủa của họ liệu có ảnh hưởng nhiều tới quyết định tiếp theo về chẩn đoán, điều trị và các chế độ khác hay không.
Trong trường hợp này nên động viên người bệnh. Tuỳ theo thái độ của người bệnh đối với bản thân mà đưa ra những lời động viên hợp lí. Tuy nhiên cũng không được phép nói sai sự thật hoặc hứa hẹn điều không thể thực hiện được với người bệnh.
Trong nhiều trường hợp có thể lại gặp thái cực khác: người bệnh đánh giá quá cao bản thân, rằng ở họ không có vấn đề gì lớn....Thậm chí có người bệnh, ví dụ, tái hiện rất kém song vẫn khẳng định rằng trí nhớ của mình là tốt, không có vấn đề gì.
Trong trường hợp này nên chỉ cho họ những chỗ họ đạt kết quả chưa cao, động viên họ cần phải chấp hành chế độ chữa trị...
Một điều cần phải lưu ý mang tính nguyên tắc là hỏi chuyện lâm sàng không được làm xấu đi tình trạng tâm lí của người bệnh. Ví dụ, trong tiền sử, bệnh sử của mình, người bệnh đã có những việc làm khiến họ cứ ân hận, day dứt. Hoặc một bé gái bị rối loạn stress sau khi bị cưỡng bức tình dục. Khi đó không được phép làm nặng nề thêm tình trạng của họ. Tuy nhiên có những thông tin chúng ta cần thu thập thêm hoặc cần làm sáng tỏ và chỉ có thể thông qua lơì kể của người bệnh. Khi đó, hoặc là phải chờ đến khi người bệnh đã thực sự ổn định, hoặc là phải chuẩn bị tâm lí thật kĩ, đến mức độ cảm thấy những câu hỏi không làm tổn thương người bệnh. Ngay trong những trường hợp như vậy, cần phải tạm dừng hoặc chuyển chủ đề khi thấy người bệnh quá xúc động.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:31 pm

Chương 2
CÁC PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
I. PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM
I.1. Khái niệm
Trong nhận thức khoa học có nhiều phương pháp khác nhau. Có những phương pháp mang tính chất cơ bản mà ở bất kì lĩnh vực nào cũng phải sử dụng. Cũng có những phương pháp phổ biến ở một số lĩnh vực và có những phương pháp mang tính đặc thù của một lĩnh vực. Có thể nói, thực nghiệm là phương pháp cơ bản của tâm lí học.
Trong tâm lí học, thực nghiệm có thể được định nghĩa như sau:
Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ động, trong những điều kiện đã được khống chế, để gây ra ở đối tượng những biểu hiện về quan hệ nhân - quả, tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng, có thể lặp đi lặp lại nhiều lần và đo đạc, định lượng, định tính một cách khách quan các hiện tượng cần nghiên cứu (Nguyễn Quang Uẩn và CS., 1999).
I.2. Phân loại thực nghiệm
Có 3 cách phân loại chính:
Cách thứ nhất: chia thực nghiệm thành 2 dạng:
- Thực nghiệm tự nhiên: thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện tự nhiên, trong điều kiện bình thường của cuộc sống hoạt động. Đặc điểm nổi bật là khách thể không nhận biết được mình đang tham gia vào thực nghiệm.
- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm: thực nghiệm được tiến hành trong điều kiện các biến số đã được khống chế và kiểm soát chặt chẽ. Bằng cách thay đổi điều kiện một cách có kế hoạch (thay đổi biến số), nhà nghiên cứu ghi nhận những thay đổi trong hành vi của khách thể.
Trong thực hành tâm lí lâm sàng, thực nghiệm được tiến hành chủ yếu dưới dạng trong phòng thí nghiệm. Tại các bệnh khoa tâm thần, cơ sở trị liệu hoặc tham vấn tâm lí thường có phòng thực nghiệm tâm lí. Tại đây, tuỳ theo mục đích khám (như đã đề cập trong chương 1), nhà tâm lí tiến hành các phương pháp thăm khám tâm lí đối với thân chủ.
Cách thứ hai: Chia thực nghiệm thành thực nghiệm phát hiện/xác định và thực nghiệm hình thành.
- Thực nghiệm phát hiện/xác định: dựa theo giả thuyết đã được đặt ra, nhà tâm lí đi tìm các chứng cứ thực nghiệm để khẳng định hoặc ngược lại nhằm bác bỏ giả thuyết đó. Ví dụ, một bệnh nhân phàn nàn rằng mình có những vấn đề về trí nhớ. Qua hỏi chuyện, nhà tâm lí thấy có những dấu hiệu của suy giảm trí nhớ. Tuy nhiên chưa rõ là khía cạnh nào của trí nhớ bị ảnh hưởng và ảnh hưởng đến mức độ nào. Do vậy những phương pháp thăm khám tâm lí lâm sàng được lựa chọn sao cho kết quả của chúng sẽ là cứ liệu để trả lời câu hỏi.
- Thực nghiệm hình thành: Trong tâm lí lâm sàng, thực nghiệm hình thành ít được sử dụng một cách độc lập. Để hình thành hoặc điều chỉnh một phẩm chất tâm lí nào đó, công việc này thường được thực hiện dưới góc độ trị liệu nhiều hơn. Mặc dù vậy cũng phải thấy rằng trị liệu cũng thường được tiến hành trên cơ sở kết quả của thực nghiệm, là bước ứng dụng triển khai mô hình mà thực nghiệm đã xác lập được.
Cách chia thứ ba: thực nghiệm nhóm và thực nghiệm cá nhân
- Thực nghiệm nhóm: để chứng minh giả thuyết đã được đề ra, người ta thường tổ chức thực nghiệm trên nhóm khách thể. Đồng thời với việc lựa chọn nhóm thực nghiệm, người ta cũng thường lựa chọn nhóm đối chứng. Các tiêu chí giữa 2 nhóm phải đồng nhất: cùng độ tuổi, tỉ lệ về giới, trình độ học vấn, ngoại trừ biến số mà nhà nghiên cứu cần kiểm soát, ví dụ một nhóm bị trầm cảm còn nhóm đối chứng thì không. Các trắc nghiệm tâm lí được thực hiện trước, trong và sau thực nghiệm. Tuỳ theo quy mô nghiên cứu, số lần trắc nghiệm trong quá trình thực nghiệm có thể nhiều hay ít hoặc có thể không phải chỉ 1 mà là 2 nhóm thực nghiệm. Khi đó kết quả của từng nhóm được so sánh với nhóm đối chứng và so sánh với nhau. Thực nghiệm nhóm thường được sử dụng trong các nghiên cứu trị liệu và nó cũng thường là thực nghiệm hình thành.
Thực nghiệm cá nhân: thực nghiệm cá nhân thường là dạng thực nghiệm phát hiện/xác định. Ví dụ, bệnh nhân phàn nàn về hiện tượng giảm sút trí nhớ, kém tập trung. Trong trường hợp này, thực nghiệm được tiến hành không chỉ đơn thuần là nhằm xác định mức độ giảm sút trí nhớ hay chú ý mà nhằm phát hiện/xác định nguyên nhân của các sự giảm sút đó: do căn nguyên tâm lí hay thực thể.
I.3. Các nguyên tắc xây dựng thực nghiệm tâm lí lâm sàng
I.3.1. Nguyên tắc mô hình hoá hiện tượng tâm lí
- Các hiện tượng tâm lí có cấu trúc phức tạp
- Phân tích ra các thành tố và kiểm soát nó, tái lập lại một/ một số hành động, thao tác trong điều kiện đã được kiểm soát
-Nói một cách khác, yêu cầu nghiệm thể thực hiện một số bài tập nhất định, qua đó bộc lộ khía cạnh tâm lí cần nghiên cứu.
- Thay đổi điều kiện: cách thức, thời gian, can thiệp của nhà tâm lí... để theo dõi, ghi nhận sự thay đổi khía cạnh tâm lí cần nghiên cứu.
- Về thực chất, thực nghiệm tâm lí là tái tạo lại một hiện tượng/hoạt động tâm lí: nhận thức, cảm xúc...
I.3.2. Ghi nhận các diễn biến một cách chính xác và khách quan
Tất cả các diễn biến của thực nghiệm cần phải được ghi lại một cách khách quan, chính xác. Bản thân thuật ngữ thực nghiệm đã phần nào nói lên tính chính xác của việc thu nhận các cứ liệu: thực – làm thực.
Mỗi buổi khám tâm lí đều có biên bản. Ngoài những thông tin chung như: số dăng kí; ngày và nơi thực hiện; người thực hiện và những thông tin về người bệnh, trong biên bản cần ghi lại những diễn biến của buổi khám. Cụ thể, cần phải đặc biệt lưu ý đến những khía cạnh như hành vi, cảm xúc, những nhận xét, bàn luận…của người bệnh cũng như phản ứng của họ khi nhà tâm lí có nhắc nhở, gợi ý.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:31 pm

II. TRẮC NGHIỆM TÂM LÍ LÂM SÀNG
II.1. Khái niệm
Trong các tài liệu tâm lí học, thuật ngữ trắc nghiệm tâm lí thường được dùng tương đương với thuật ngữ test tâm lí. Có nhiều định nghĩa khác nhau về test
- Test tâm lí về cơ bản là một phép đo khách quan mẫu hành vi đã được chuẩn hóa (A. Anastasi, 1976).
- Theo từ điển của các nhà tâm lí học Xôviết: test là hệ thống các bài tập cho phép đo mức độ phát triển của một phẩm chất tâm lí nhất định (Petrovxki, 1990). Trong trường hợp này, test được định nghĩa như là một bộ các phương pháp.
Test cũng còn được định nghĩa như là một bài tập: test là một dạng bài tập cá nhân hoặc nhóm đã được chuẩn hoá, nó có thể định tính hoặc định lượng, có nghĩa là xác định sự hiện diện hoặc thiếu vắng một năng lực, kiến thức hoặc một kĩ năng nào đó, hoặc xác định mức độ hiện diện của chúng (J. Drever, 1979).
Như vậy có thể nhận thấy test được quan niệm trên cả 3 bình diện: là một phép đo cụ thể, một bài cụ thể, ví dụ test trí tuệ Raven; test cũng còn được xem như là bộ test và test – trắc nghiệm là cách tiếp cận đối tượng.
Trong chương này, test được bàn từ góc độ là một phương pháp tiếp cận.
II.2. Các nguyên tắc của trắc nghiệm
II.2.1. Tính chuẩn
Bản thân thuật ngữ trắc nghiệm/ phép đo đã nói lên yêu cầu chuẩn. Nói một cách ngắn gọn, trắc nghiệm tâm lí phải được thực hiện theo các chuẩn:
- Điều kiện chuẩn
Bất kì một trắc nghiệm tâm lí nào đều phải được thực hiện trong điều kiện chuẩn, có nghĩa là đều phải có sự thống nhất chung, tránh những ảnh hưởng của môi trường xung quanh đến tiến trình và kết quả thực hiện: tiếng ồn, nhiệt độ, ánh sáng…phải được đảm bảo, không bị người khác quấy rầy.
- Quy trình chuẩn
Mỗi trắc nghiệm đều phải được tiến hành theo đúng quy trình đã được xác định. Cũng có những trắc nghiệm có cách tiến hành đơn giản. Cũng có những trắc nghiệm đòi hỏi người hướng dẫn phải có kĩ năng. Ví dụ, để thực hiện tốt trắc nghiệm trí tuệ Wechsler, người hướng dẫn vừa phải theo dõi quá trình khách thể thực hiện, vừa phải theo dõi chính xác thời gian từng bài.
- Điểm chuẩn
Trong rất nhiều trắc nghiệm tâm lí, kết quả cuối cùng được quy ra điểm. Thang điểm cuối cùng này được gọi là điểm chuẩn (điểm ban đầu thường được gọi là điểm thô). Tuy nhiên cũng có rất nhiều thang điểm chuẩn khác nhau: thang bậc 9, thang bậc 10, thang điểm T, điểm z, điểm khuynh số, điểm bách phân…Hiện nay, nhiều trắc nghiệm tâm lí thông dụng trong tâm lí lâm sàng thường sử dụng thang điểm T và điểm khuynh số và điểm bách phân.
Điểm bách phân/phần trăm
Sau khi đã xác lập được bộ câu hỏi, các nhà thiết kế phải tiến hành đo trên một mẫu chuẩn hay còn gọi là nhóm đại diện. Ví dụ, trắc nghiệm trí tuệ Wechsler WAIS-R được chuẩn hoá dựa trên mẫu gồm 1.880 người của 9 nhóm tuổi khác nhau, đại diện theo điều tra dân số của Hoa Kì năm 1970.
Điểm thô của nhóm đại diện này có thể được sử dụng để làm “thước đo”. Điểm bách phân biểu thị tỉ lệ phần trăm số người trong mẫu chuẩn/mẫu đại diện nằm dưới điểm thô cụ thể. Ví dụ, trong mẫu chuẩn có 28% số người đạt 15 điểm trở xuống trong trắc nghiệm. Như vậy điểm thô 15 tương ứng với 28 điểm bách phân (P28).
Điểm bách phân thể hiện cá nhân nằm ở vị trí nào so với nhóm chuẩn. Kết quả thấp thì điểm bách phân càng thấp, vị trí của cá nhân đó so với nhóm càng thấp.
Điểm bách phân 50 (P50) tương ứng với trung vị. Điểm bách phân bằng không không có nghĩa là điểm không mà là điểm mà cá nhân đạt được thấp hơn tất cả nhóm chuẩn, ngược lại, điểm bách phân bằng 100 có nghĩa là điểm mà cá nhân đó đạt được cao hơn tất cả các thành viên của nhóm chuẩn.
Nhược điểm của điểm bách phân là ở chỗ khoảng cách không đều nhau. Ví dụ giữa 40 điểm với 50 điểm bách phân chỉ cách nhau 4 điểm thô, trong khi đó giữa 80 điểm với 90 điểm bách phân có thể có khoảng cách lớn hơn nhiều.
Điểm khuynh số IQ
Người ta cũng có thể xử lí điểm thô của nhóm đại diện để từ đó xây dựng thang điểm chuẩn khác. Ví dụ, tính điểm trung bình của nhóm tuổi từ 20 đến 24. Điểm trung bình này được ấn định là 100 điểm chuẩn. Tuỳ từng trắc nghiệm, mỗi một độ lệch chuẩn (SD) được ấn định một số điểm nhất định. Ví dụ trong quá trình chuẩn hoá trắc nghiệm trí tuệ Wechsler, mỗi độ lệch chuẩn được ấn định là 15 điểm. Như vậy điểm thô ban đầu của trắc nghiệm được chuyển đổi sang hệ điểm chuẩn (vì vậy mà nó còn được gọi là điểm phái sinh).
Điểm được tính theo độ lệch chuẩn còn gọi là điểm khuynh số. Các trắc nghiệm trí tuệ Wechsler là sử dụng điểm khuynh số. Theo thang điểm khuynh số IQ, có thể phân chia các mức độ:
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:32 pm

Trong thực tiễn tâm lí lâm sàng, các điểm phái sinh đã được tính toán sẵn. Khi xử lí kết quả, chúng ta chỉ cần căn cứ vào điểm thô, tra bảng theo tuổi (có thể cả giới) để xác định điểm chuẩn mà một cá nhân, một bệnh nhân cụ thể đạt được.
Điểm chuẩn T
Cũng là một dạng điểm trực tuyến phái sinh do McCall đề xuất năm 1922. Trên thang này, 50 điểm là trung bình, mỗi một SD tương đương với 10 điểm chuẩn. Ví dụ, trắc nghiệm nhân cách MMPI sử dụng thang điểm T.
II.2.2. Độ tin cậy
Độ tin cậy của test nói lên mức độ ổn định, chắc chắn của nó. Nói một cách khác, test phải đủ tin cậy để một cá nhân cũng sẽ đạt điểm như vậy đối với trắc nghiệm đó ở lần sau. Tuy nhiên đó là mặt lí thuyết. trên thực tế, vẫn có “sai số” đo.
Theo G. Marnat (1990), có 2 khía cạnh chính liên quan đến sai số trong test
- Khía cạnh thứ nhất gắn với việc thực hiện/hành động của con người. Thường trắc nghiệm nhân cách dễ có nhiều sai số hơn so với trắc nghiệm năng lực. Tuy nhiên chính năng lực/trí tuệ của con người cũng có biến đổi do sự phát triển; còn các nét nhân cách phụ thuộc vào trạng thái cảm xúc. Điều này càng rõ đối với những người có nét nhân cách lo âu.
- Khía cạnh thứ hai: bản thân cái gọi là những phương pháp trắc nghiệm tâm lí cũng mang tính mơ hồ nhất định. Vấn đề là ở chỗ các phương pháp trắc nghiệm tâm lí chỉ đo một cách gián tiếp các hiện tượng tâm lí.
Mặc dù có những sai số khó có thể loại bỏ được hết song mục đích chính của bất kì một trắc nghiệm nào cũng phải đạt được độ tin cậy nhất định, thường được thể hiện qua hệ số tương quan.
Trong thực tiễn, có những trắc nghiệm cần được nhắc lại. Tuy nhiên lại không nên dùng chính bài đã làm bởi hiệu ứng trí nhớ hoặc tập thành do đã được thực hiện trắc nghiệm. Do vậy khi xây dựng, có những trắc nghiệm được soạn thảo gồm một số phiên bản tương đương nhau. Khi ứng dụng, nhà tâm lí có thể lựa chọn một trong các phiên bản đó. Khi nhắc lại, dùng phiên bản khác song độ tin cậy vẫn được bảo đảm.
II.2.3. Độ hiệu lực (Validity)
Nếu độ tin cậy đề cập đến cái bên ngoài, thì độ hiệu lực (độ ứng nghiệm) đề cập đến cái bên trong của trắc nghiệm.
Về độ tin cậy, có thể phát biểu: trên cùng một khách thể ở những lần đo khác nhau, cùng một trắc nghiệm trên những khách thể tương đồng thì trắc nghiệm phải cho kết quả giống nhau.
Tính hiệu lực: trắc nghiệm phải đo được cái cần đo. Trắc nghiệm được thiết kế để đo trí nhớ thì cái mà trắc nghiệm đo được phải là trí nhớ. Tuy nhiên cũng không loại trừ trường hợp cái mà trắc nghiệm đo được mới chỉ là một phần chứ chưa phải toàn bộ trí nhớ. Mặt khác còn nảy sinh vấn đề là cùng một hiện tượng nhưng có thể có rất nhiều quan niệm khác nhau. Ví dụ, có rất nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc nhân cách. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta đánh giá tính hiệu lực như thế nào?
Nhìn chung, theo quan điểm của nhiều nhà tâm lí học, có 3 loại tính hiệu lực chủ yếu: hiệu lực về nội dung, hiệu lực về quan niệm của tác giả và hiệu lực dự đoán.
• Hiệu lực về nội dung
Khi xây dựng test, nhà thiết kế phải xác định rõ nội dung lĩnh vực kiến thức hoặc kĩ năng mà test định đo. Các câu hỏi/bài tập phải tập trung vào những nội dung đã được xác định đó. Những bất cập có thể có: các mục nhỏ (item)/bài tập vượt ra ngoài miền đo (lạc miền), hoặc ngược lại, không bao trùm được tất cả các khía cạnh của miền đo.
• Hiệu lực về quan niệm của tác giả
Trắc nghiệm được thiết kế dựa trên quan niệm nào về hiện tượng cần đo. Theo quan niệm như vậy thì thiết kế đã phù hợp và bao quát hay chưa.
Ở đây chúng ta thấy có sự liên quan mật thiết giữa độ hiệu lực về nội dung và độ hiệu lực về quan niệm của tác giả. Lí thuyết, quan niệm của tác giả (về hiện tượng tâm lí cần đo) quy định, chỉ đạo việc thiết kế, xây dựng trắc nghiệm. Mặt khác các bài tập/câu hỏi là cần phải được xây dựng sao cho phản ánh được đúng và đầy đủ quan điểm lí thuyết.
• Hiệu lực về dự đoán
Đối chiếu với những hành vi/kết quả sau này của nghiệm thể.
II.3. Chuẩn bệnh lí
Nét đặc thù của trắc nghiệm tâm lí lâm sàng chính là ở chỗ nó cần phải trả lời rằng kết quả đó có phải là bình thường hay bệnh lí. Một hiện tượng tâm lí đến mức độ nào thì xem là bệnh lí? Gọi là bệnh lí có đúng không? Nếu không gọi là bệnh lí thì dùng từ gì? Rối loạn? Rối nhiễu? Dị thường? Lệch chuẩn?
Chưa bàn đến sự giống nhau và khác nhau giữa những khái niệm đó, vấn đề mà chúng ta quan tâm trước hết là tiêu chuẩn để xác định bệnh lí hoặc rối loạn đối với một hiện tượng tâm lí.
Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận hoàn toàn. Sự khó khăn tập trung vào một số khía cạnh sau:
Không có một tiêu chuẩn chung cho việc xác định như thế nào là bình thường và như thế nào là bệnh lí.
Không có ranh giới rõ ràng giữa bình thường và bệnh lí.
Người bình thường cũng có lúc biểu hiện giống với người bị bệnh.
Người bị bệnh cũng có những hành vi giống với người bình thường.
Hiện nay phần lớn các nhà tâm lí lâm sàng đều cho rằng có thể xem xét tiêu chí để đánh giá bình thường hay bệnh lí thường được bàn đến theo các bình diện:
Tuân theo mực chuẩn.
Những trải nghiệm (chủ quan) dị thường: đau khổ quá mức, ý nghĩ kì dị.
Mất khả năng hoặc rối loạn chức năng.
II.3.1. Tuân theo mực chuẩn
Mực chuẩn ở đây gồm 2 loại: chuẩn mang tính thống kê và mực chuẩn xã hội. Chúng ta hãy phân tích 2 trường hợp.
Trường hợp 1: Billy A. (trích dẫn theo T. Trust & E. Phares, 2001)
Billy đang học lớp 2. Cậu bé có chiều cao và cân nặng bình thường, không có khuyết tật hoặc bệnh tật cơ thể. Billy cũng hay gây gổ và bắt nạt bọn trẻ con nhỏ tuổi hơn nó. Cậu bé sinh ra bình thường, đi và nói có chậm hơn chút nhưng cũng không nhiều. Năm lớp 1 cậu bé đã học kém, cuối năm đứng cuối lớp. Tuy nhiên Billy vẫn được lãnh đạo nhà trường cho lên lớp bởi người ta cho rằng có thể cậu bé “lớn” chậm hơn các bạn một chút và đâu đó đâu sẽ vào đấy. Nhưng rồi người ta nhận thấy Billy vẫn như một trẻ nhỏ, hay bám bố mẹ, giảm chú ý và hay gây gổ. Đây cũng là những lí do chủ yếu làm cho Billy học kém.
Đầu năm lớp 2, điểm trắc nghiệm kết quả (Achievement test) của Billy rất kém. Theo quy định, cậu được đưa đến nhà tâm lí học đường để khám. IQ theo Thang Stanford-Binet của cậu là 64; theo test vẽ người ( Draw-a-Person Test) khoảng 61. Kết hợp với các tư liệu trong hồ sơ, các tư liệu do cha mẹ cung cấp, nhà tâm lí học đường đi đến chẩn đoán Billy bị chậm phát triển trí tuệ.
Trường hợp 2
Hồi nhỏ Martha L. không có gì đặc biệt. Cô học vẫn tốt mặc dù cũng có một vài vấn đề với cha mẹ và thầy cô giáo. Có ít bạn nhưng Martha không phải là người cô độc. Khi Martha vào cấp 3, mọi việc dần thay đổi. Đầu tiên là tóc để theo phong cách rất đơn giản. Kế đó là mặc quần áo kì dị, có lẽ là mốt của 50 năm trước. Không trang điểm, không đồ trang sức. Nếu trước đây Martha cũng như những cô gái khác thì bây giờ dễ dàng nhân ra cô trong đám đông.
Kết quả học tập của Martha ngày càng sút kém. Cô thường đóng kín cửa phòng và ngồi hàng giờ liền để đọc kinh thánh. Cô bắt đầu phê phán những cô gái khác là thiếu đạo đức khi nắm tay bạn trai hoặc đi nhảy. Martha bắt đầu chăm đi lễ nhà thờ. Có những chủ nhật, cô đến 5, 6 nhà thờ. Trong phòng ở và trên tường cô treo nhiều tranh ảnh về Chúa và tôn giáo.
Khi Martha nói với cha mẹ rằng cô sẽ gia nhập một tổ chức tôn giáo kín, sẽ đi khắp đất nước (Mĩ) để mang thông điệp của Chúa Giê su tới mọi người thì cha mẹ cô đã đưa cô đến gặp bác sĩ tâm thần. Ngay sau đó cô được nhập viện. Tuy nhiên cô cũng có nhiều chẩn đoán khác nhau về tình trạng của mình: tâm thần phân liệt thể paranoid; rối loạn nhân cách dạng phân liệt; và tâm thần phân liệt thể không biệt định.
Như vậy cả hai trường hợp : Billy và Martha đều không bình thường, lệch chuẩn. Tuy nhiên nếu Billy lệch chuẩn theo phương diện thống kê (ở vào mức độ kém mà cùng lứa tuổi, ít có người có kết quả như vậy) thi Martha lại lệch chuẩn theo phương diện: ít có ai ăn mặc và hành xử như cô.
II.3.2. Những trải nghiệm đau khổ chủ quan (distress)
Nếu như những mực chuẩn được đánh giá từ phía bên ngoài, khách quan thì những trải nghiệm của chủ thể: sung sướng hay đau khổ, buồn bã hoặc cô đơn lại mang tính chủ quan. Mặc dù vậy cũng không kém phần quan trọng trong việc xem xét bình thường hay không bình thường hoặc bệnh lí (ở đây thuật ngữ lệch chuẩn có lẽ không còn phù hợp).
Trường hợp thứ 3:
Cynthia đã lấy chồng được 23 năm. Chồng cô là một kĩ sư có năng lực và thành đạt. Họ có 2 con: 1 sinh viên và 1 đang học cấp III. Trong tiền sử, không có lí do gì để cho rằng Cynthia có những vấn đề về tâm lí. Cô có chỉ số trí tuệ trên trung bình, đã tốt nghiệp đại học 2 năm trước khi lấy chồng. Bạn bè của Cynthia đều nhận xét rằng cô là người cống hiến cho gia đình. Về cá nhân, Cynthia là người có trách nhiệm, có năng lực giải quyết mọi việc, vẫn tthực hiện công việc và đạt được mục đích dù cho có stress lớn. Cô được xem là người dễ chịu, cởi mở và bên ngoài của cô chẳng cho thấy một vấn đề nào.
Cynthia đang theo học một khoá buổi tối của đại học cộng đồng. Tại khoá học, người ta đã đề nghị sinh viên viết một bài luận về những nỗi niềm tâm sự sâu kín của mỗi người. Nhà tâm lí học, người đang giảng khoá học này đã rất ngạc nhiên khi đọc bài luận của Cynthia:
Cứ mỗi sáng tôi lại cảm thấy dường như mình không thể qua được hết ngày. Tôi thường xuyên bị đau đầu và cảm thấy như mình sắp bị ốm. Tôi rất sợ khi phải gặp gỡ với người chưa quen biết và đặc biệt là phải làm chủ một bữa tiệc tiếp khách. Nhiều lúc tôi cảm thấy một nỗi buồn ghê gớm. Tôi không biết liệu có phải mình là người thiếu bản lĩnh hay không?
Có thể nói Cynthia đã cố gắng kìm hãm, khôg để biểu lộ những cảm xúc, trải nghiệm đó ra hành vi bên ngoài.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:33 pm

II.3.3. Rối loạn chức năng hoặc mất khả năng
Mỗi con người còn là một cá nhân, một chủ thể của các hoạt động cá nhân và xã hội. Rối loạn chức năng/mất khả năng thể hiện ở chỗ chủ thể không thể duy trì được những chức năng bình thường, ví dụ như duy trì các mối quan hệ liên nhân cách. Điển hình là những rối loạn nhân cách dạng như xung động ăn cắp, kiện cáo, phụ thuộc ma tuý.
Như vậy với mỗi cách tiếp cận, định nghĩa khác nhau có thể có các cách xây dựng những tiêu chuẩn khác nhau cho các trắc nghiệm tâm lí. Sự phức tạp như vậy cũng gây không ít khó khăn cho các nhà tâm lí lâm sàng.
II.4.Thích ứng hoá test
Cũng như các lĩnh vực tâm lí học ứng dụng khác, trong thực tiễn tâm lí lâm sàng, một trắc nghiệm tâm lí được xây dựng ở một nước nào đó và sau được sử dụng ở nước khác. Trước khi ứng dụng, thông thường các trắc nghiệm được thích ứng hoá. Đây là các biện pháp nhằm đảm bảo cho test được sử dụng có hiệu quả trong điều kiện mới.
Thích ứng hoá test trải qua các bước sau:
- Phân tích cơ sở lí luận của test
Mỗi trắc nghiệm đều được xây dựng trên một cơ sở lí luận nhất định. Việc phân tích cơ sở lí luận của test nhằm giúp cho nhà nghiên cứu nắm vững hơn các thông số kĩ thuật của test, đặc biệt là độ hiệu lực.
- Chuyển ngữ test và các hướng dẫn, kiểm định lại bằng ý kiến chuyên gia
Trong cấu trúc của nhiều test có thành tố ngôn ngữ. Chuyển ngữ là một công việc khá phức tạp bởi đây không phải đơn thuần là một phép dịch thuật. Một ví dụ đơn giản. Trong ngôn ngữ viết của nhiều nước Âu-Mĩ, câu bị động là dạng câu được ưa dùng. Người Việt Nam thường dùng câu chủ động hơn. Đó là chưa kể đến những đặc điểm văn hoá và dân tộc của nước đã xây dựng trắc nghiệm.
Thông thường việc thích ứng hoá test do một nhóm chuyên gia về lĩnh vực này thực hiện. Để đảm bảo độ tin cậy của test, cần phải lấy ý kiến chuyên gia thuộc các lĩnh vực có liên quan về phiên bản đã được chuyển ngữ.
- Kiểm tra độ hiệu lực và độ tin cậy của test
Sau khi đã chỉnh sửa test, các bước còn lại mang tính kĩ thuật nhiều hơn: kiểm tra, đánh giá lại các thông số của test như độ hiệu lực và độ tin cậy.
- Chuẩn hoá test
Đây là bước tiêu tốn thời gian cũng như các nguồn lực. Một loạt các thao tác kĩ thuật cần phải thực hiện như lựa chọn nhóm đại diện, tiến hành đo đạc và sau đó xử lí số liệu, xây dựng điểm chuẩn.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:33 pm

III. ĐÁNH GIÁ HÀNH VI
III.1. Khái niệm
Mặc dù trị liệu hành vi đã xuất hiện khá sớm, từ những năm 20 của thế kỷ 20, song phải mãi đến giữa thập kỷ 60, đánh giá hành vi (Behavioral Assessment) mới được sử dụng nhiều hơn trong lâm sàng. Theo các nhà tâm lí học hành vi, sự chậm trễ này là do nửa đầu thế kỷ 20, phân tâm học và tiếp theo đó, như nhiều nhà tâm lí thường gọi đối với định hướng phân tâm là tâm lí động thái (Psychodynamic) ngự trị trong tâm lí lâm sàng.
Đề cập đến những nội dung chính của đánh giá hành vi, các nhà hành vi thường đưa ra sự so sánh phân biệt giữa đánh giá hành vi với trắc nghiệm truyền thống. Sự khác biệt đó có thể được hệ thống lại như trong bảng 3.2.
III.2. Các kĩ thuật đánh giá hành vi
III.2.1. Phỏng vấn
Mục đích chính của phỏng vấn trong đánh giá hành vi là nhằm xác định hành vi có vấn đề, các yếu tố hoàn cảnh gây râ các hành vi đó và hậu quả của chúng. Mô hình chung, theo quan niệm như vậy là: ABC

Bảng 3.2. So sánh tiếp cận hành vi với tiếp cận truyền thống
Nội dung Tiếp cận thành vi Tiếp cận truyền thống
Mục đích - Nhằm xác định những hành vi có vấn đề và hoàn cảnh/ tình huống xuất hiện những hành vi đó.
- Trợ giúp việc lựa chọn dạng trị liệu phù hợp.
- Trợ giúp đánh giá hiệu quả trị liệu. Nhằm chẩn đoán và phân loại các rối loạn.
- Trợ giúp việc xác định các yếu tố nguyên nhân
- Trợ giúp tiên lượng (dự đoán)
Quan niệm

về nguyên nhân Hành vi được thể hiện là do các yếu tố (biến số) hoàn cảnh hoặc do sự tương tác của hoàn cảnh với các yếu tố (biến số) cá nhân Hành vi được xem là sự thể hiện của các yếu tố (biến số) bên trong hoặc của cá nhân.
về ý nghĩa Kết quả của test được xem là mẫu hành vi mà cá nhân sẽ thể thiện trong hoàn cảnh tương tự Kết quả của test được xem là dấu hiệu của rối loạn hoặc nét bên trong của cá nhân.
Phương pháp Nhấn mạnh đến các phương pháp trực tiếp (ví dụ: quan sát hành vi trong môi trường tự nhiên) Chủ yếu là các phương pháp gián tiếp (ví dụ: phỏng vấn và tự thuật)
Thời gian Đánh giá hành vi là một quá trình: tiến hành trước, trong và sau trị liệu Chủ yếu là trước (có thể cả sau) trị liệu phụ thuộc vào nhiều chẩn đoán
A- Những yếu tố của hoàn cảnh (Antecedents)
B- Hành vi (Behaviour)
C- Hậu quả (Concequence)
Những thông số chính về hành vi có vấn đề mà nhà quan sát cần quan
tâm:
- Tần xuất
- Cường độ
- Độ dài
Nhằm tăng độ tin cậy của đánh giá/ chẩn đoán xu hướng chung hiện nay là sử dụng nhiều những phỏng vấn có cấu trúc.
III.2.2. Quan sát
Quan sát là kĩ thuật chủ yếu của đánh giá hành vi. Đối với một số trường hợp, ví dụ như bệnh nhân loạn thần hoặc trẻ nhỏ thì quan sát là kĩ thuật chủ đạo. Quan sát có thể do một chuyên gia hoặc là người đã được hướng dẫn, luyện tập. Đây thường là những người tiếp xúc trực tiếp với đối tượng quan sát, ví dụ như: cô giáo, cha mẹ. Cũng có thể do chính đối tượng thực hiện (tự quan sát).
Có thể sử dụng các phương tiện kĩ thuật trợ giúp: đồng hồ, camera và các thiết bị điện tử hoặc đơn giản là giấy bút.
Quan sát trong gia đình.
Môi trường gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thích ứng của cá nhân. Do vậy có rất nhiều qui trình đánh giá hành vi đã được xây dựng. Một trong những qui trình như vậy là hệ thống mã hoá hành vi- BCS (Behavioral Coding System) do Patterson và CS soạn thảo năm 1975 (hình 3.1.). Qui trình này thường được dùng để quan sát những đứa trẻ có những hành vi hung hãn và không nghe lời. Người quan sát được tập huấn và sau đó có thể quan sát trẻ tại gia đình trong khoảng 1-2 giờ.
Điều khá lí thú là Patterson và Fongatch (1995) quan sát 67 trẻ đã phát hiện thấy rằng điểm hành vi chống đối ở trẻ tại thời điểm kết thúc trị liệu có giá trị dự báo cao với những trường hợp bị cảnh sát bắt giữ trong vòng 2 năm tiếp theo. Ngược lại, không có ai trong số những người quan sát : thầy cô giáo, cha mẹ lại dự báo được chuyện này.



Quan sát ở trường học
Tương tự, cũng có những qui trình được thiết kế để quan sát hành vi của trẻ ở trường học. Ví dụ quan sát trực tiếp Achenbach- DOF (Achenbach’s direct observation Forun, 1994).
Quan sát tại bệnh viện: một trong những qui trình được ưa dùng và phát triển phiếu liệt kê hành vi TSBC (Time Sample Behavioral Checklist) của Gordon, 1974.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:34 pm

III.2.3. Những kĩ thuật đánh giá hành vi hiện thời
Phương pháp đóng vai
Mặc dù phương pháp đóng vai được ứng dụng khá sớm (Moren O. 1946; Kelly, 1975) trong lĩnh vực lâm sàng cũng như một số lĩnh vực khác song nó vẫn đang là một trong những kĩ thuật được ưa dùng trong đánh giá hành vi hiện nay. Ví dụ Wentyman và Mc Fall (1975) đã xây dựng 6 tình huống xã hội để cá nhân thể hiện vai:
Anh đang giờ nghỉ trưa. Anh nhìn thấy một cô gái cũng tầm tuổi anh tại căng tin. Cô ấy làm ở bộ phận khác của cơ quan và anh không biết nhiều về cô ấy. Anh muốn bắt chuyện với cô ta. Vậy anh sẽ nói gì?
Các nhà lâm sàng quan tâm đến kĩ thuật đóng vai bởi nó đơn giản và cũng là một phương tiện đánh giá kĩ năng có hiệu quả. Tuy vậy, theo Phares (2001),các nhà lâm sàng cũng phải lưu ý rằng kĩ năng được hình thành trong phòng trị liệu chưa chắc đã bền vững trong đời sống thực.
Các dạng bảng hỏi (Inventory; Checklist)
Hiện nay các nhà lâm sàng cũng sử dụng nhiều phương pháp tự thuật (Self- report) để đánh giá hành vi, đáp ứng cảm xúc và khảo sát môi trường xung quanh. Ví dụ thang trầm cảm Beck-BDI (Beck Depression Inventory) được soạn thảo lần đầu năm 1972; Bảng tự thuật dành cho lứa tuổi trẻ (Youth Self- Report) của Achenbach năm 1991; Bảng hỏi về xung đột hôn nhân (Marital Conflict Form) của Weiss & Margolin, 1977. Đây là những bảng được sử dụng nhiều.

Đánh giá hành vi nhận thức
Trong vòng 30 năm trở lại đây, có nhiều nghiên cứu tập trung vào làm sáng tỏ những quá trình nhận thức đứng đằng sau các rối loạn hành vi. Những nghiên cứu này đã ảnh hưởng đáng kể đến nội dung đánh giá hành vi. Nhiều quy trình đã được soạn thảo nhằm đánh giá hành vi - nhận thức.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   Thu Sep 17, 2009 7:35 pm

IV. NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP VÀ NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ
IV.1. Nghiên cứu trường hợp
Nghiên cứu trường hợp cũng là một phương pháp được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong Y học và Tâm lí Lâm sàng.
Có một số quan niệm khác nhau về nghiên cứu trường hợp. Tuy nhiên từ góc độ tâm lí lâm sàng, nghiên cứu trường hợp thường được hiểu là nghiên cứu một cách tích cực, toàn diện của một trường hợp cụ thể.
Nội dung của nghiên cứu trường hợp bao gồm:
- Các tư liệu: tiểu sử, nhật kí, tiền sử bệnh lí.
- Phỏng vấn.
- Kết quả của các lần thực nghiệm tâm lí.
- Kết quả trị liệu.
Giá trị lớn nhất của nghiên cứu trường hợp là ở chỗ nó có thể thu thập phong phú các tư liệu của 1 cá nhân, chính những kết quả của nó dẫn đến việc hình thành các giả thuyết khoa học.
Đã có rất nhiều những nghiên cứu ca. Trong tâm lí lâm sàng đã có rất nhiều nghiên cứu trường hợp đã trở thành kinh điển như trường hợp bé Hans (Freud 1909), trường hợp bé Albert của Watson.
Nghiên cứu trường hợp có ý nghĩa rất lớn trong:
- Mô tả trường hợp khác thường, hiếm gặp hoặc mới.
Tuy nhiên hạn chế của nghiên cứu trường hợp là ở chỗ kết quả của nó khó có thể khái quát thành các quy luật tâm lí- hành vi để có thể áp dụng cho trường hợp khác.
- Không thể đưa ra kết luận về mối quan hệ nhân quả bởi nhà nghiên cứu không thể kiểm soát được những biến số quan trọng trong trường hợp cụ thể đó.
Tuy nhiên nghiên cứu trường hợp cũng chịu sự chi phối rất nhiều về quan điểm của nhà nghiên cứu. Những trường hợp nổi tiếng của Freud như: trường hợp bé Hans hoặc trường hợp Dora đều là những trường hợp được mô tả theo hướng phân tâm. Ngược lại, những trường hợp của các nhà hành vi thì cũng được trình bày theo hướng hành vi.
Trường hợp Karl S.
Trường hợp Karl S. được Phares mô tả vào năm 1976. Karl là một cựu binh độc thân được giới thiệu đến phòng khám ngoại trú dành cho cựu binh. Chỉ một thời gian ngắn sau, nhà trị liệu đã thấy rằng đây không phải là trường hợp điển hình của loạn thần kinh chức năng. Không có bất kì một triệu chứng loạn thần kinh kinh điển nào. Karl thường xuyên có lo âu và thỉnh thoảng cũng bị trầm cảm song vấn đề chủ yếu của anh ta là không có các kĩ năng xã hội. Karl thất nghiệp, chỉ sống bằng số trợ cấp ít ỏi của chính phủ và thỉnh thoảng được mẹ hỗ trợ thêm. Không kể mẹ, Karl không có bất kì mối quan hệ nào, có lẽ chỉ ngoại trừ những lần mua thuốc lá hoặc đổi tiền trên xe buýt.
Trị liệu được thực hiện không theo hướng chiều sâu mà là một quá trình huấn luyện kĩ năng. Mục đích chính của trị liệu là dạy cách tìm việc làm, duy trì được công việc, nói chuyện với phụ nữ và chiếm được cảm tình của họ. Công việc này mất rất nhiều buổi. Tuy nhiên kết quả tiến bộ rất chậm. Không phải Karl không hiểu hoặc không thích thú hay thậm chí miễn cưỡng áp dụng những kĩ năng vừa mới học. Vấn đề là ở chỗ khi Karl thể hiện hành vi mới và hành vi này có hiệu quả nhưng hiệu quả này lại ảnh hưởng không đáng kể đến hành vi tiếp theo. Điều này có nghĩa là kết quả của hành vi đã không có tác dụng củng cố. Dường như Karl là trường hợp ngoại lệ, không theo quy luật cơ bản của lí thuyết hành vi học tập.
Nhà trị liệu và các cộng sự đã phải đau đầu hàng mấy tháng trời. Ví dụ, sau khi áp dụng kĩ năng tìm việc và đã tìm được việc thì sự tự tin của Karl cũng không hề tăng lên. Karl kết quả có được là do may mắn chứ không phải là do sự nỗ lực của bản thân. Một số tình huống khác cũng tương tự như vậy. Theo đề nghị rất mạnh mẽ của nhà trị liệu, Karl dã hẹn hò với một phụ nữ đồng nghiệp và cô ta đã nhận lời. Tuy nhiên anh ta vẫn cho rằng đó chẳng qua là sự may mắn tình cờ.
Trường hợp của Karl chính là sự gợi mở, thúc đẩy hình thành giả thuyết về sự kiểm soát trong – ngoài hoặc trung tâm kiểm soát (Locus of control) (Rotter, 1968).
(Nguồn: T. J. Trull & E. J. Phares (2001), Clinical Psychology, 6th ed.)
IV.2. Nghiên cứu dịch tễ
Nghiên cứu dịch tễ là nghiên cứu tỉ lệ mới mắc, tỉ lệ mắc điểm và sự phân bố của một bệnh hoặc một rối loạn nào đó.
Một số thuật ngữ thường dùng:
- Tỉ lệ mắc điểm: là tỉ lệ của một bệnh/ rối loạn nào đó tại thời điểm khảo sát. Ví dụ, theo kết quả khảo sát của chương trình chăm sóc sức khoẻ tâm thần quốc gia ở Việt Nam năm 1999, tỉ lệ tâm thần phân liệt là 0,47%.
- Tỉ lệ mới mắc: tỉ lệ số trường hợp bị bệnh/ rối loạn mới xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất định (trong điều tra dịch tễ, tỉ lệ này thường tính theo năm). Ví dụ, tỉ lệ mắc điểm của tâm thần phân liệt ở nước ta, cũng theo số liệu của chương trình, là 0,02%/ năm. Điều này có nghĩa là mỗi năm có khoảng 20 người bị TTPL trong tổng số 100.000 dân. Căn cứ vào cố liệu tỉ lệ mới mắc hàng năm, chúng ta có thể biết rối loạn/ bệnh đó tăng hay giảm.
Về mặt lịch sử, nghiên cứu dịch tễ xuất phát từ các nghiên cứu y học, ví dụ các nghiên cứu về dịch đậu mùa, sốt rét. Giá trị của nghiên cứu dịch tễ là ở chỗ khi phân tích sự phân bố các trường hợp rối loạn trong cộng đồng và xem xét/ phân tích những đặc điểm của nhóm bệnh, chúng ta nhận biết được bước đầu nguyên nhân của 1 bệnh nào đó. Ví dụ một nghiên cứu dịch tễ nổi tiếng: Hút thuốc lá và sức khoẻ, đăng trên tạp chí Phẫu thuật đại cương của Mỹ (1964) cho thấy: có mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá và ung thư phổi (90% số trường hợp nam giới bị ung thư phổi là hút thuốc lá và số lượng hút hàng ngày cũng như thời gian hút tương quan thuận rất chặt với nguy cơ bị ung thư).
Các phương pháp dịch tễ cũng rất quan trọng trong việc xác định những nhóm hoặc những cá nhân có nguy cơ cao. Ví dụ, những người nghiện ma tuý là những người có nguy cơ cao trong việc nhiễm HIV.
Nghiên cứu dịch tễ cho phép nhận diện những yếu tố có thể là nguyên nhân (thường đó là những yếu tố xuất hiện trước khi bệnh xuất hiện). Tuy nhiên nghiên cứu dịch tễ cũng mới chỉ có thể dẫn đến nhận định về nguyên nhân chứ chưa thể chứng minh được nguyên nhân của bệnh. Chúng ta có thể chưa tin rằng hút thuốc lá chính là nguyên nhân dẫn đến ung thư phổi, hoặc chúng ta cũng có thể nghĩ rằng một số đặc điểm bẩm sinh di truyền nào đó tương tác với hút thuốc lá và gây nên ung thư. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng những người đàn ông không hút thuốc thì giảm nguy cơ ung thư phổi.
Phần lớn các nghiên cứu dịch tễ đều dựa trên phương pháp điều tra khảo sát và phỏng vấn. Do vậy nghiên cứu dịch tễ cần phải được thực hiện trên cơ sở 1 thiết kế tốt bởi nếu không chúng ta sẽ bỏ qua những yếu tố quan trọng. Ở đây thể hiện qua 2 khía cạnh:
- Thứ nhất: khi đưa ra các câu hỏi để điều tra, phỏng vấn, nhà nghiên cứu có thể chưa đề cập được hết những vấn đề cần tìm hiểu.
- Thứ hai: câu hỏi phỏng vấn chưa tốt, đặc biệt là khi động chạm đến những vấn đề nhạy cảm nên người được phỏng vấn trả lời theo xu hướng ý muốn của xã hội, theo cái chung chứ không trả lời vấn đề của họ.
Thông thường, nghiên cứu dịch tễ trải qua các bước sau:
- Xác định vấn đề nghiên cứu: vấn đề cần khảo sát có thể nhiều hoặc ít, có thể rộng hoặc sâu. Giữa các vấn đề cần nghiên cứu có liên quan rất mật thiết với quy mô nghiên cứu. Quy mô nghiên cứu ở mức độ nhỏ thì không nên đặt ra quá nhiều vấn đề. Tương tự, để có được tư liệu về nhiều khía cạnh của vấn đề cần nghiên cứu thì quy mô của nó cũng phải đủ lớn. Xác định vấn đề nghiên cứu bao gồm cả việc xác định những biểu hiện của chính vấn đề và những dấu hiệu liên quan. Việc xác định được đầy đủ các biểu hiện như vậy sẽ giúp nhà nghiên cứu khảo sát được đầy đủ vấn đề.
- Thiết kế các câu hỏi phỏng vấn điều tra. Nghiên cứu dịch tễ có nhiều điểm rất gần với điều tra xã hội học. Do vậy nhà nghiên cứu cũng cần phải nắm vững các kĩ thuật đặt câu hỏi phỏng vấn, điều tra như: câu hỏi đóng và câu hỏi mở, câu trực tiếp và câu gián tiếp. Tuy nhiên nét đặc thù của tâm lí lâm sàng là ở chỗ có rất nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhưng lại rất nhạy cảm, ví dụ như: những vấn đề liên quan đến lạm dụng tình dục trẻ em, rối loạn lo âu- trầm cảm, tự sát.
- Làm thử. Tuỳ theo phạm vi nghiên cứu, bước làm thử cũng có thể ở các quy mô khác nhau. Mục đích chính của bước này là giúp nhà nghiên cứu rà soát lại những câu hỏi đã hợp lí chưa, các khía cạnh của vấn đề đã được bảo đảm chưa. Làm thử cũng còn là bước để nhà nghiên cứu kiểm tra lại độ tin cậy của các câu trả lời. Nếu cần thiết thì cần phải có sự điều chỉnh cả về câu hỏi cũng như về quy trình điều tra.
- Triển khai nghiên cứu theo kế hoạch. Tất cả các bước chuẩn bị chỉ để cho việc triển khai nghiên cứu thu được các tư liệu một cách khách quan nhất và đầy đủ nhất.
- Xử lí kết quả: đây là khâu cuối cùng trong nghiên cứu dịch tễ. Xử lí kết quả nhằm cung cấp các dữ liệu để có thể trả lời cho vấn đề nghiên cứu.


Ngoài ra còn có các phương pháp chuyên biệt khác như:

Chương 3Những phương pháp nghiên cứu trí nhớ, chú ý và cảm xúc
I. Các phương pháp khảo sát trí nhớ
II. Các phương pháp khảo sát trạng thái chú ý
III. Các phương pháp khảo sát cảm xúc
Chương 4 Các phương pháp khảo sát tư duy, trí tuệ
I. Các phương pháp khảo sát tư duy
II. Các trắc nghiệm trí tuệ
Chương 5 Các phương pháp nghiên cứu nhân cách
I. Các phương pháp sử dụng câu hỏi
II. Các phương pháp phóng chiếu


tài liệu trích dẫn từ nguồn của PGS.TS Nguyễn Sinh Phúc
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng   

Về Đầu Trang Go down
 
Các phương pháp tiếp cận trong tâm lý học lâm sàng
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
 Similar topics
-
» Tìm hiểu về Vận đơn đường biển (Bill of Lading - B/L)
» Cảng biển khu vực phía Nam: Bao giờ hết cảnh chờ đường?
» Tiếp tục làm rõ các sai phạm của Vinashin
» CÁCH POST HÌNH LÊN DIỄN ĐÀN
» Tỷ lệ vàng

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
NGÔI NHÀ TRÁI TIM :: TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC :: Kiến thức chuyên ngành :: Tâm lý học :: Tâm lý học trị liệu-
Chuyển đến