NGÔI NHÀ TRÁI TIM

Hãy cho - Hãy nhận - Hãy sống bằng cả con tim
 
IndexIndex  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 HÀN PHI TỬ (P2)

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
hoangan_tlgd



Tổng số bài gửi : 9
Join date : 04/05/2010
Age : 26
Đến từ : Long An

Bài gửiTiêu đề: HÀN PHI TỬ (P2)   Fri Jun 03, 2011 1:36 am

Tiếp
c.“Pháp” theo tư tưởng Hàn Phi Tử
Pháp là tiêu chuẩn, căn cứ khách quan để định rõ danh phận, phải trái, công tội; từ đó mọi người biết được bổn phận, trách nhiệm của mình.
Hàn Phi Tử định nghĩa cho "Pháp" có ba điểm chính:
Là pháp lệnh do cửa quan ban ra, mọi người đều phải tuân theo.
Nội dung chính yếu của pháp lệnh là Thưởng và Phạt.
Pháp ví như tấm gương sáng có thể soi thấu tà gian; pháp ví như cán cân, tiêu biểu cho lẽ công bằng.
Nếu xét theo quan niệm hiện đại, thì hàm nghĩa của "Pháp" gồm có hai mặt tích cực và tiêu cực. Về mặt tiêu cực là có tính cách phòng ngừa, pháp đã quy định sẵn, trường hợp phạm vào lệnh cấm nào, thì phải chịu theo hình phạt ấy; về mặt tích cực thì, có những điều khoản bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người dân. Nhìn lại cái gọi là "Pháp" mà Hàn Phi luôn luôn nhấn mạnh, thì chỉ có mặt tiêu cực thôi. Nói cách khác là, Pháp của Hàn Phi, chỉ có những điều do kẻ thống trị đòi hỏi ở nhân dân thôi, ngược lại, nhân dân chẳng có quyền đòi hỏi điều gì cả ở kẻ thống trị.

Đọc sách "Hàn Phi Tử", người ta thấy chữ "Pháp" hay gắn liền với chữ "Cấm". Vậy cái gọi là Pháp. Tức là lệnh cấm, là những gì mà kẻ thống trị đòi hỏi một chiều ở người dân, ai làm đúng với lệnh đó thì được thưởng, trái với lệnh đó là phải thọ phạt. Thưởng và Phạt là hai cái cán, giúp cho kẻ thống trị kiểm soát, thậm chí nô dịch nhân dân. Để pháp lệnh được thi hành hữu hiệu, đòi hỏi kẻ hành pháp phải công bằng vô tư.

Hàn Phi đã viết trong thiên "Ngũ xuẩn" rằng: "Phù thùy khấp bất dục hình giả, nhân giã; nhiên nhi bất khả bất hình giả, pháp giã. Tiên vương thắng kỳ pháp, bất thính kỳ khấp". (Phàm là người rơi lệ, không đành lòng gia hình cho kẻ khác, là Nhân; nhưng buộc không thể không gia hình cho kẻ khác là Pháp. Tiên vương sở dĩ đã thắng lợi thành công, là nhờ vào Pháp, chẳng màng đến tiếng khóc than).
Theo quan niệm của Hàn Phi như vậy, thì Pháp chẳng những có ý nghĩa pháp lệnh quốc gia về mặt chính trị, đồng thời còn là tiêu chuẩn tối cao về giá trị xã hội nữa. Do đó, Hàn Phi đã đả kích hầu hết các học thuyết khác, kể cả Khổng - Mạnh, Lão – Trang và Mặc Tử nữa.
Theo Hàn Phi, nội dung chính yếu của Pháp là thưởng và phạt.

Sở dĩ phải nhấn mạnh vấn đề thưởng phạt, là vì có ba nguyên nhân sau đây:
Người ta có tâm lý ham thưởng sợ phạt, nên áp dụng luật thưởng phạt, là phương pháp cai trị hữu hiệu nhất.
Nếu vua chúa để mắt nhìn, để tai nghe và dùng đầu óc suy tư thì rất dễ bị thần thuộc a dua lừa bịp. Một khi đã áp dụng luật lệ thưởng phạt, thì sẽ tránh được tệ hại đó bởi điều thưởng phạt là phán xét theo sự kiện khách quan, việc gì đáng thưởng, điều nào đáng phạt, đều được định sẵn bằng luật lệ minh bạch, khỏi bị ảnh hưởng bởi tình cảm chủ quan.
Thưởng phạt là lợi khí sắc bén, để vua chúa kiểm soát thần thuộc.
Bá Di, Thúc Tề vì tưởng niệm cố quốc, bất mãn chính trị mà chịu chết đói trên núi hoang, được Khổng Tử tôn là hiền sĩ, nhưng với Hàn Phi thì cho rằng, những người chẳng ham thưởng, không sợ phạt như vậy, là "hạng thần dân vô ích", theo tiêu chuẩn giá trị chữ "Pháp".Hàn Phi quan niệm pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất để đem lại hòa bình, ổn định và công bằng: “Bậc thánh nhân hiểu rõ cái thực tế của việc phải và trái, xét rõ thực chất của việc trị và loạn, cho nên trị nước thì nêu rõ pháp luật đúng đắn, bày ra hình phạt nghiêm khắc để chữa cái loạn của dân chúng, trừ bỏ cái họa trong thiên hạ. Khiến cho kẻ mạnh không lấn át người yếu, kẻ đông không xúc phạm số ít, người già cả được thỏa lòng, người trẻ và cô độc được trưởng thành, biên giới không bị xâm lấn, vua và tôi thân yêu nhau, cha con giữ gìn cho nhau”.
Sở dĩ tư tưởng chính trị của Hàn Phi đối lập với tư tưởng Nho gia là bởi ông có một quan niệm hết sức sâu sắc về thực tiễn. Khác với Khổng Mạnh mượn đời xưa để phê phán đời nay hay lấy cái quá khứ được tuyệt đối hóa để đo hiện tại, Hàn Phi cho rằng, mọi suy nghĩ, mọi hành động, mọi lý luận phải đều được bắt nguồn từ chính thực tiễn của đất nước. Các nhà Nho trên mây trên gió bàn việc chính sự chẳng qua chỉ như trẻ con nghịch đất, không thể đem lại hiệu quả thực tế: “Trẻ con đùa nghịch với nhau lấy đất làm cơm, lấy bùn làm canh, lấy gỗ làm thịt. Nhưng chiều đến, thế nào cũng trở về nhà ăn cơm. Cơm đất, canh bùn có thể đùa để chơi, nhưng không thể dùng để ăn. Khen những điều truyền tụng từ thượng cổ, hùng biện mà không chắc chắn, nói chuyện nhân nghĩa của các tiên vương mà không biết sửa đổi nước, thì đó cũng đều là những điều có thể dùng để đùa chơi chứ không dùng để trị nước”.

Hai thiên Giải Lão và Dụ Lão trong tác phẩm Hàn Phi Tử, đã chứng tỏ Hàn Phi rất am hiểu Đạo gia. Nhìn chung, cả Đạo gia và Pháp gia đều yêu cầu mọi việc phải luôn biến đổi. Đạo gia nhấn mạnh đến tính tương đối của tri thức con người cũng như của chế độ, còn Pháp gia đi đến kết luận rằng, cần phải lấy yêu cầu trước mắt làm phương hướng cho việc giải quyết các vấn đề chính sự. Nó đòi hỏi người đứng đầu bộ máy quyền lực phải luôn theo sát tình hình thực tế: “Bậc thánh nhân không cốt trau dồi chuyện xưa, không noi theo những nguyên tắc bất biến, khi bàn việc làm ở đời thì dựa theo tình hình của thời mình mà đặt ra những biện pháp”.
Hàn Phi phê phán một cách gay gắt những người hủ Nho, coi đó là “bọn học giả dốt nát ở đời không biết bản chất của việc trị và loạn, cứ nói năng nhảm nhí và dẫn những sách của người xưa để làm rối việc cai trị ở đời này... Nếu nghe lời họ thì nguy, nếu dùng kế họ thì loạn. Đó là điều ngu hết sức lớn và là mối lo hết sức lớn”.

Then chốt của việc xây dựng đất nước giàu mạnh là phải dựa vào pháp luật. Có pháp luật, pháp luật được thi hành một cách phổ quát và đúng đắn thì xã hội mới ổn định, xã hội ổn định lại là tiền đề quan trọng để xây dựng đất nước giàu mạnh, làm cho dân chúng được yên bình, hạnh phúc. Từ chỗ cho rằng, “Không có nước nào luôn luôn mạnh, cũng không có nước nào luôn luôn yếu. Hễ những người thi hành pháp luật mà mạnh thì nước mạnh, còn hễ những người thi hành pháp luật yếu thì nước yếu”.
Hàn Phi đã đề xuất tư tưởng “trị nước bằng luật pháp” (dĩ pháp trị quốc), chủ trương “luật pháp không phân biệt sang hèn” (pháp bất a quý), “hình phạt không kiêng dè bậc đại thần, tưởng thưởng không bỏ sót kẻ thất phu” (hình quá bất tị đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu). Ông hết sức coi trọng tác dụng của pháp luật và chủ trương xây dựng một lý luận pháp trị hoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân, kết hợp chặt chẽ “pháp”, “thuật” với “thế”.

Hàn Phi hiểu rất rõ và sâu sắc về pháp luật, coi “pháp luật là mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với lòng dân, thưởng cho những kẻ cẩn thận giữ pháp luật, nhưng phạt những kẻ làm trái lệnh”.
Đây là một tư tưởng hết sức tiến bộ so với đương thời. Cái gọi là “mệnh lệnh ban bố rõ ràng nơi cửa công” khác xa so với cách cai trị bởi ý muốn chủ quan của các cá nhân quý tộc nắm quyền đương thời. Pháp luật rõ ràng được ban bố cho trăm họ, làm cho dân biết pháp luật để tránh phạm pháp; lấy đó làm chuẩn tắc cho hành vi của mọi người, chứ không phải là cái bẫy để hại dân. Các điều luật minh bạch là phương thức phòng bị tích cực, chứ không phải là một thủ đoạn chế tài tiêu cực. Đồng thời, nó cũng chính là “hiến lệnh” – một công cụ - để vua cai trị thần dân.

Nội dung chủ yếu của “pháp” có thể quy về 2 khái niệm chủ yếu là “thưởng” và “phạt”.
Thực hành pháp trị tất phải xây dựng pháp luật. Hàn Phi cho rằng, lập pháp cần phải xét đến các nguyên tắc sau:
Tính tư lợi. Hàn Phi quan niệm nền tảng của quan hệ giữa con người với con người là tư lợi, ai cũng muốn giành cái lợi cho mình. “Ông thầy thuốc khéo hút mủ ở vết thương người ta, ngậm máu người ta không phải vì có tình thương cốt nhục, chẳng qua làm thế thì có lợi. Cho nên, người bán cỗ xe làm xong cỗ xe thì muốn người ta giàu sang. Người thợ mộc đóng xong quan tài thì muốn người ta chết non. Đó không phải vì người thợ đóng cỗ xe có lòng nhân, còn người thợ đóng quan tài không phải ghét người ta, nhưng cái lợi của anh ta là ở chỗ người ta chết”. Luật pháp đặt ra thì cái lợi của nó phải lớn hơn cái hại.
Hợp với thời thế. Đây chính là thuyết biến pháp của Hàn Phi. Nguyên tắc thực tế của việc xây dựng pháp luật, hay tính thực tiễn của luật pháp, là nét nổi bật trong tư tưởng pháp trị của Hàn Phi. Đối với ông, không có một pháp luật siêu hình hay một mô hình pháp luật trừu tượng tiên thiên để mà noi theo. Chỉ duy nhất có yêu cầu và tiêu chuẩn của thực tiễn. “Pháp luật thay đổi theo thời thì trị; việc cai trị thích hợp theo thời thì có công lao... Thời thế thay đổi mà cách cai trị không thay đổi thì sinh loạn... Cho nên, bậc thánh nhân trị dân thì pháp luật theo thời mà thay đổi và sự ngăn cấm theo khả năng mà thay đổi”.
Ổn định, thống nhất. Mặc dù pháp luật phải thay đổi cho hợp với thời thế, song trong một thời kỳ, pháp lệnh đã đặt ra thì không được tùy tiện thay đổi (“số biến pháp”), vì nếu vậy thì dân chúng không những không thể theo, mà còn tạo cơ hội cho bọn gian thần.
Phù hợp với tình người, dễ biết dễ làm.
Đơn giản mà đầy đủ.
Thưởng hậu phạt nặng.
Đối với việc chấp pháp, nguyên tắc của Hàn Phi là:
Tăng cường giáo dục pháp chế, tức là “dĩ pháp vi giáo”.
Mọi người, ai ai cũng bình đẳng trước pháp luật, tức “pháp bất a quý”, “hình bất tị đại thần, thưởng thiện bất di tứ phu”. Đến bản thân bậc quân chủ – nhà vua – cũng phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật: “Kẻ làm vua chúa là kẻ phải giữ pháp luật, căn cứ vào kết quả mà xét để lập công lao”.
Nếu nhà vua biết bỏ điều riêng tư, làm theo phép công thì chẳng những dân sẽ được yên, mà nước cũng được trị. Nếu xét theo ý nghĩa của những luận điểm này thì có thể thấy rằng, mặc dù Hàn Phi chủ trương quân quyền thần thánh không thể xâm phạm, song hình thái quân quyền này vẫn bị chế ước bởi pháp quyền.
Nghiêm khắc cẩn thận, “tín thưởng tất phạt”, không được tùy ý thưởng cho người không có công, vô cớ sát hại người vô tội.
Dùng sức mạnh đạo đức hỗ trợ cho việc thi hành pháp luật. Hàn Phi chủ trương pháp trị, song cũng rất chú trọng đến “thuật” của nhà vua, bởi vì “bầy tôi đối với nhà vua không phải có tình thân cốt nhục, chỉ vì bị tình thế buộc không thể không thờ”(14). Nhà vua dựa vào pháp trị để làm cho đất nước giàu mạnh, song nếu “không có cái thuật để biết kẻ gian thì chỉ lấy cái giàu mạnh của nước mà làm giàu có cho các quan đại thần mà thôi”.

Do vậy, nhà vua phải có “thuật” để dùng người. Đối với Hàn Phi, “thuật” chính là một loạt các phương pháp bổ nhiệm, miễn nhiệm, thi cử, thưởng phạt của nhà vua. Trong đó, phép hình danh là một thuật không thể thiếu được của bậc quân chủ. Với cách nhìn như vậy thì “pháp” và “thuật” gắn bó chặt chẽ với nhau: “Nhà vua không có thuật trị nước thì ở trên bị che đậy; bầy tôi mà không có pháp luật thì cái loạn sinh ra ở dưới. Hai cái không thể thiếu cái nào, đó đều là những công cụ của bậc đế vương”.
Ngoài “pháp” và “thuật”, Hàn Phi đặc biệt coi trọng “thế”. “Thế” còn được gọi là “quyền thế”, “uy thế”, “thế trọng”, nó chỉ một sức mạnh quyền uy tuyệt đối, cũng chính là quyền thống trị tối cao của ông vua, bao gồm quyền sử dụng người, quyền thưởng phạt, v.v.. Hàn Phi cho rằng, chỉ khi nào nắm quyền thống trị trong tay, thì một người nào đấy mới là kẻ thống trị, mới có thể cai trị dân chúng. Trong thiên “Bát kinh”, ông viết: “Cái thế là cơ sở để thắng đám đông” (Thế giả, thắng chúng chi tư dã). Để yên ổn trị nước, bậc quân chủ tất phải nắm giữ quyền thế.
Hàn Phi quan niệm rất rõ ràng những điểm trọng yếu về thế:
Vua không được cho bề tôi mượn quyền thế.
Vua không được dùng chung quyền thế với bề tôi.
Cần sử dụng thuật thưởng phạt để củng cố quyền thế.
Vua phải duy trì địa vị độc tôn của mình, không được để bề tôi quá quý hiển, đề phòng đại thần tiếm quyền. Vì vậy, nếu chỉ xét về bản thân vị vua, thì “thế” là cái cốt lõi nhất, quan trọng nhất, còn “pháp” và “thuật” chỉ là công cụ.
Sử dụng “pháp”, “thuật”, “thế” cốt yếu là để tăng cường sức mạnh của tập quyền quân chủ, tạo nên bối cảnh chính trị “việc tuy ở bốn phương song then chốt ở tại trung ương, thánh nhân nắm giữ cái chủ yếu, bốn phương đến phục dịch” (sự tại tứ phương, yếu tại trung ương, thánh nhân chấp yếu, tứ phương lai hiệu. “Hàn Phi tử. Dương quyền”). Từ đó, góp phần tạo ra một xu thế lịch sử cho việc xây dựng một nhà nước trung ương tập quyền phong kiến thống nhất.

IV.Đánh giá học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử

1.Ưu điểm của học thuyết
Học thuyết pháp trị Trung hoa thời cổ đại được ra đời từ những nguyên nhân bắt nguồn từ phương diện thực tiễn và lý luận. Đó vừa là sự kế thừa những tư tưởng, học thuyết đi trước; vừa là sự phản ánh qui luật vận động của hiện thực trên cơ sở những kết quả của hoạt động nhận thức sáng tạo của con người gắn với những phẩm chất, nhân cách cá nhân tiêu biểu của thời đại.
Học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử có sự kế thừa, tiếp thu những mặt mạnh của các quan niệm về “Thuật” – Thân Bất Hại, “Thế” của Thận Đáo và “Pháp” của Thương Ưởng. Hàn Phi còn kế thừa, tiếp thu cơ sở lý luận từ các học thuyết tư tưởng Nho, Lão và phát triển chúng theo quỹ đạo của pháp trị. Bên cạnh phát huy những điểm ưu của những tư tưởng trước đó thì ông cũng đã chỉ ra một cách thật cụ thể về những mặt mạnh, mặt hạn chế của từng quan niệm mà vận dụng đưa vào tình hình nước nhà cho phù hợp.
Khi đất nước đang trong tình hình rối ren, xã hội loạn lạc thì giữa lúc đó học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử đã xuất hiện. Chính nhờ vào sự ra đời của học thuyết pháp trị của ông đã tạo ra tiền đề vững chắc khắc phục tình trạng nước nhà đang trong thế lâm nguy. Nhờ có học thuyết này nên xã hội phần nào ổn định không còn tình trạng cướp bóc như trước kia, khuôn khổ pháp luật đi vào nề nếp làm cho nhà nước hưng thịnh, đời sống nhân dân được chăm lo một cách chu đáo hơn.
Học thuyết ra đời được xem là một công cụ hữu hiệu để tình hình chính trị lúc bấy giờ đi vào kỷ cương và được lòng tin cậy của nhân dân, học thuyết được xem là một mô hình chuẩn để mọi người căn cứ vào đó mà chấp hành và có quyền chịu trách nhiệm về việc làm của mình.

2.Hạn chế học thuyết pháp trị
Trên thực tế, sau khi sử dụng hệ thống pháp trị, nhà Tần đã thu phục được các nước còn lại, thống nhất Trung Quốc, mở ra một trang sử mới cho dân tộc Trung Hoa. Song, sang đến đời Hán, Nho gia đã hưng thịnh trở lại, Pháp gia cùng hệ thống pháp trị nhanh chóng mất đi chỗ đứng của mình. Về phương diện này, Ngô Kinh Hùng, nhà triết học pháp luật nổi tiếng người Trung Quốc, đã đưa ra một nhận xét tương đối xác đáng rằng, sở dĩ Pháp gia thất bại là do bản thân cách làm của Pháp gia (trong đấy có Hàn Phi) tồn tại nhiều điểm quá cực đoan:
Đồng nhất việc cai trị dựa trên pháp luật với việc cai trị dựa vào các hình phạt nghiêm khắc.
Quan niệm về pháp luật của Pháp gia nói chung và Hàn Phi nói riêng quá máy móc và cứng nhắc, hoàn toàn không có tính đàn hồi trong việc sử dụng pháp luật.
Coi các điều khoản pháp luật chính thức là hình thức duy nhất phù hợp với pháp luật, hoàn toàn bỏ qua nhân tố luật tập quán.
Giải thích mục tiêu pháp luật quá chú trọng đến phương diện vật chất; thực ra, luật pháp cần phải giúp phát triển một cách bình đẳng các lợi ích khác nhau.
Ở họ, có lòng nhiệt huyết cải cách mù quáng, song lại quá thiếu ý thức lịch sử, dường như là muốn sáng tạo lại lịch sử.
Thực tế sau đó cho thấy, tư tưởng Nho gia đã nhấn chìm chế độ pháp luật, mà chậm nhất là đời Đường đã xuất hiện một chủ nghĩa Nho gia khống chế toàn bộ hệ thống pháp luật. Ngô Kinh Hùng viết: “Bắt đầu từ đó, pháp luật là nô tỳ của đạo đức – nằm ở địa vị thứ cấp – không được những người tài năng nhất coi trọng”; “Từ trong thâm tâm, tôi cho rằng thắng lợi của Nho gia... đã đặt pháp luật học vào trong quan tài, khiến nó biến thành con rối trong suốt hơn 20 thế kỷ. Khoảng cuối thế kỷ XIX, ảnh hưởng của phương Tây mới bắt đầu giải thoát tinh thần pháp luật Trung Quốc ra khỏi tấm áo chế ngự của truyền thống Nho gia”.
Ông còn nói thêm rằng, ở phương Tây thời cổ đại, người La Mã đã đạt đến trình độ cao nhất về tư tưởng pháp luật, qua suốt thời kỳ trung cổ, đến tận thời cận đại, pháp luật luôn được coi trọng và được mọi người công nhận là công cụ của chính nghĩa. Mặc dù đôi khi có những trào lưu hay lý luận vô chính phủ đặt luật thói quen cao hơn luật hình thức, song những hiện tượng này chỉ nằm ngoài lề đời sống xã hội và đời sống văn hóa. Có người nói sau khi tư tưởng pháp luật Trung Quốc đạt đỉnh cao thời kỳ đầu, hai nghìn năm nay nó chỉ có vị trí là một cái bóng, điều đó không phải là không có lý. Một số người khác thường đặt Pháp gia trong sự đối chiếu với tinh thần pháp luật của người Hy Lạp, La Mã cổ đại, song theo tôi, trên một phương diện nào đấy, khó có thể so sánh Pháp gia với hệ thống pháp luật Hy Lạp và đặc biệt là La Mã. Tư tưởng pháp trị của Trung Quốc mà Hàn Phi là đại biểu xuất sắc nhất vẫn thiếu một tinh thần pháp luật tối thượng. Tuy Hàn Phi quan niệm vua phải tuân theo pháp luật, song trên thực tế, vua là người siêu vượt lên trên pháp luật, vì mọi quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều nằm trong tay nhà vua. Hơn nữa, xem xét dưới góc độ kỹ thuật, dù có một số người vẫn quan niệm pháp luật của Hàn Phi là sự kết hợp giữa lễ và hình, song để so sánh, thì “hình” vượt xa “lễ” rất nhiều. Trên thực tế, hình phạt là nền tảng của những điều luật mà Pháp gia đưa ra.
Nếu nhìn trong quá trình lịch sử thì cái gọi là sự thất bại của Pháp trước Nho có nhiều căn nguyên xã hội sâu xa. Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng đã tiến hành một loạt cải cách quan trọng, như xác lập chế độ sở hữu đất đai phong kiến trên phạm vi cả nước, xây dựng hàng loạt các công trình thủy lợi lớn, loại bỏ chế độ phân phong, thiết lập chế độ quận huyện, thống nhất tiền tệ, hệ thống đo lường, bánh xe, văn tự toàn quốc, v.v..
Khi nhà Tần sụp đổ, nhà Tây Hán từ Hán Cao Tổ [ ] đến Hán Vũ Đế [ ] vẫn tiếp tục con đường chính trị và chính sách của Pháp gia và từ đây, sự đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng Nho và Pháp ngày càng trở nên gay gắt hơn.
Mặc dù từ Tần Thủy Hoàng đã phế bỏ chế độ nô lệ, song đến đầu Tây Hán, việc mua bán, sử dụng nô lệ với số lượng lớn vẫn được tiến hành, nhất là ở các nhà quý tộc sáu nước cũ “lục quốc cường tộc”. Ngoài ra, các nhà buôn và các ông chủ sản xuất lớn (nhất là trong các ngành quan trọng: luyện sắt, làm muối, đúc tiền,…) cũng lấy nô lệ làm lực lượng lao động chủ yếu. Hai thế lực này cấu kết với nhau, gây một áp lực lớn đối với chính quyền nhà Hán. Trước tình hình đó, Hán Văn Đế và Hán Cảnh Đế tiếp tục tiến hành con đường của Pháp gia, bác bỏ các lập luận của hai nhóm trên, mạnh tay bãi bỏ phiên trấn, tăng cường trung ương tập quyền.
Sau khi lên ngôi, Hán Vũ Đế từng tiếp nhận kiến nghị “Độc tôn Nho học, loại bỏ các trường phái khác” (“Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”) của Đổng Trọng Thư. Về mặt tuyên ngôn ý thức hệ là như vậy, song trên bình diện hành động thực tiễn, vị vua này vẫn triệt để đi theo con đường Pháp gia. Mặc dù Đổng Trọng Thư [ ] đề xuất “Xuân Thu đại nhất thống”, cổ vũ “làm vua, dựng nước trên cơ sở cắt đất, chia dân” (“cát địa phân dân nhi kiến quốc lập quân”. Xuân Thu phồn lộ. Chư hầu) nhằm quay lại chế độ chư hầu phân phong, song Hán Vũ Đế vẫn nhất quán chính sách “tiêu phiên” (diệt trừ phiên trấn), tiến hành trấn áp Hoài Nam Vương Lưu An, củng cố chế độ trung ương tập quyền. Ông bác bỏ chính sách kinh tế “nhà nước không tranh lợi với nhân dân” (“bất dữ dân tranh lợi”), “trả nghề làm muối và luyện sắt cho người dân” (“diêm thiết giai quy ư dân”. Hán Thư. Thực hóa chí) của Đổng Trọng Thư, thực hành chính sách nhà nước phải nắm ngành muối và sắt của Pháp gia; đồng thời, tiến hành các biện pháp “toán mân” (thu thuế tài sản của các nhà buôn giàu có và những người cho vay nặng lãi), “cáo mân” (đánh thuế các chủ sử dụng nô lệ?).
Đến trung kỳ, hậu kỳ Tây Hán, quá trình tập trung hóa đất đai vào tay số ít tư nhân (các nhà quý tộc phong kiến, quan lại, đại địa chủ) diễn ra ngày càng mạnh. Trong Hán Thư có chép: “Kẻ mạnh thì ruộng vườn ngàn mảnh, kẻ yếu thì tấc đất cắm dùi cũng không” (“Cường giả quy điền dĩ thiên số, nhược giả tằng vô lập chùy chi cư”. Hán Thư. Vương Mãng truyện). Thế lực đại địa chủ, thế gia hào tộc này cũng chính là lực lượng bảo thủ trong xã hội. Họ ra sức tuyên truyền một ý thức hệ lạc hậu nhằm kìm hãm sự bùng phát của số đông nông dân bị phá sản, tôn sùng Khổng Mạnh, đề cao việc đọc kinh điển (tôn Khổng độc kinh), thi nhau nhận mình là học trò của Khổng Mạnh. Sau khi Hán Vũ Đế vừa qua đời, lực lượng thế gia hào tộc liền mở cái gọi là “Hội nghị làm muối làm sắt” (“Diêm thiết hội nghị”), tấn công Pháp gia nhằm thay đổi con đường pháp trị. Tuy kế hoạch này thất bại, song đến lúc Hán Nguyên Đế[ ] qua đời, lực lượng trên đã khống chế được quyền lực trong triều đình và từ đó, ý thức hệ Nho gia chiếm địa vị thống trị. Quang Vũ Đế thành lập nhà Đông Hán, ông đặc biệt đề cao Nho học, coi các con chữ trong kinh điển như những lời sấm truyền, bất cứ ai tỏ thái độ hoài nghi hay bất kính với Nho gia đều bị khép vào tội chết “phi thánh vô pháp”. Đến năm 79, Hán Chương Đế[ ] tự mình chủ trì một cuộc hội kinh học Bạch Hổ Quan lớn, lý luận hóa thuyết “thiên nhân cảm ứng” của Đổng Trọng Thư, biên tập ra Bạch Hổ thông nghĩa nổi tiếng, chính thức tuyệt đối hóa địa vị ý thức hệ Nho gia. Cũng từ đây, hệ tư tưởng Pháp gia và phương thức pháp trị hạ thêm một bậc nữa trong lịch sử Trung Quốc.
Tóm lại, tư tưởng của Hàn Phi hết sức sâu rộng, bao gồm chính trị, pháp luật, triết học, xã hội, kinh tế, quân sự, giáo dục,...; trong đó, then chốt chính là tư tưởng chính trị. Ông để tâm suy nghĩ làm sao cho vị vua trong điều kiện xã hội đương thời có thể vận dụng vô số các phương pháp khác nhau để đạt được cục diện chính trị ổn định, để cho nước giàu quân mạnh. Có thể nói “Hàn Phi Tử” là một bộ sách chính trị học vĩ đại và học thuyết chính trị của ông được người xưa gọi là “học thuyết của đế vương” (đế vương chi học).

V.Ý nghĩa về học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử
1.Ý nghĩa của việc tìm hiểu nguyên nhân ra đời của học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử.
Trong thời kỳ Cổ đại, trên vũ đài chính trị của Trung Quốc đã lần lượt kiểm nghiệm vai trò của hàng loạt các học thuyết chính trị khác nhau trong việc giải đáp yêu cầu nóng bỏng của lịch sử, song chỉ duy nhất học thuyết pháp trị giải quyết thành công. Sự khủng hoảng chính trị - xã hội trầm trọng của xã hội đương thời phản ánh sự phát triển của cuộc đấu tranh giai cấp đã trở nên gay gắt, chín muồi và đặt ra nhu cầu giải quyết bằng bạo lực và Pháp trị là học thuyết duy nhất đã nhận thức được nhu cầu đó. Không như những học thuyết khác đều đề cao nhân trị, pháp trị thực hiện đường lối chiến lược lấy pháp luật làm công cụ chủ yếu, thực hiện các biện pháp kết hợp pháp quyền với kinh tế trong cải cách để thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển, sao cho “binh cường nước mạnh”. Có thể nói, lý thuyết pháp trị của Hàn Phi trong Bách gia chư tử là có ý nghĩa thực tiễn nhất. Nó vừa phản ánh sự vận động của xã hội Trung Quốc thời kỳ cổ đại, vừa chỉ được con đường tất yếu chính trị để đi đến một quốc gia trung Quốc phong kiến thống nhất. Chủ trương của pháp trị đã đứng trên mảnh đất của hiện thực để giải quyết hiện thực và đáp ứng được lợi ích của giai cấp địa chủ - giai cấp đại diện cho xu thế đi lên của lịch sử. Vì vậy, pháp trị là học thuyết khoa học, cách mạng và thực tế cao.

Từ những nguyên nhân ra đời của học thuyết pháp trị cho chúng ta thấy: chính thực tiễn chính là nơi đặt ra yêu cầu cho lý luận giải đáp, song thực tiễn cũng luôn kiểm nghiệm, sàng lọc nghiêm khắc để đi đến sự lựa chọn duy nhất đúng là học thuyết pháp trị. Đồng thời nó cũng khẳng định: chỉ có học thuyết tư tưởng nào được ra đời trên cơ sở tổng kết thực tiễn, được kế thừa và được bổ sung thêm những giá trị tư tưởng mới trên cơ sở có chọn lọc, thì học thuyết đó mới giữ được vai trò lịch sử tiên phong. Sức sống của học thuyết pháp trị đối với thực tiễn còn được thể hiện ở chỗ đã đáp ứng được những lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị đương thời. Những qui luật rút ra từ quá trình hình thành của học thuyết pháp trị đã góp phần khẳng định tính khách quan, chân lý khoa học của học thuyết Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, trong khi khẳng định tính quyết định của thực tiễn với lý luận thì đồng thời cũng cho thấy vai trò cực kỳ quan trọng của lý luận trong việc mở đường cho thực tiễn đi lên.

Ý nghĩa thiết thực của việc tìm hiểu những nguyên nhân ra đời của học thuyết pháp trị, một học thuyết đã từng thành công trong lịch sử, đối với công tác lý luận phải thường xuyên tổng kết thực tiễn, bám sát để nắm bắt được đúng những yêu cầu của thực tiễn; đồng thời phải biết bổ sung những giá trị mới trong kho tàng nhân loại và thời đại để không ngừng phát triển hoàn thiện lý luận, để lý luận của chúng ta luôn đáp ứng đựoc những yêu cầu của cuộc sống. Bài học của việc kế thừa, phát huy những giá trị tư tưởng phải đứng vững trên lập trường giai cấp cũng gợi mở ý nghĩa thiết thực đối với công tác lý luận của chúng ta trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn đất nước hiện nay cũng đang đặt ra những câu hỏi lớn về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), hội nhập quốc tế, thực hiện mục tiêu công nghiêp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân… mà lý luận phải giải đáp có hiệu quả.

2.Ý nghĩa của học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử đối với vấn đề giáo dục Việt Nam hiện nay
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đây cũng là thời kỳ kinh tế thế giới có bước chuyển biến sâu sắc từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức. Sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức là xu thế không thể đảo ngược, xu hướng này cuốn theo tất cả các quốc gia mà không loại trừ các nước nghèo, kém phát triển, nó có tác động mạnh mẽ đối với các nước đang trong quá trình công nghiệp hóa như Việt Nam.

Quá trình phát triển kinh tế tri thức cùng với xu hướng toàn cầu hóa đang tác động to lớn tới cấu trúc kinh tế, phương thức hoạt động và tổ chức quản lý về kinh tế, xã hội trong mỗi quốc gia. Nó mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển như nước ta có thể “đi tắt, đón đầu” trên con đường phát triển kinh tế và thu hẹp khoảng cách tụt hậu.
Kinh tế tri thức đặt ra những vấn đề mới cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới ở nước ta. Chúng ta cần phải thực hiện đồng thời cả hai nhiệm vụ công nghiệp hóa và tri thức hóa để đưa đất nước phát triển, hội nhập vào kinh tế thế giới. Vì thế, phải có ý thức và chủ động tiếp cận, sử dụng mọi mặt tích cực của kinh tế tri thức vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, con người của thời đại ngày nay (thế kỷ 21) cũng rất khác so với thời đại mà chúng ta đã đi qua. Với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế tri thức đã tạo ra yêu cầu đòi hỏi giáo dục phải bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn, tùy vào thực tiễn mà thay đổi cho phù hợp và đáp ứng được nhu cầu thực tiễn xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.

Cốt lõi của kinh tế tri thức là tri thức, tri thức luôn gắn với con người, do con người tạo ra và tố chất của con người để có được tri thức bao giờ cũng gắn với sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Để đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế tri thức thì trước hết phải có một nền giáo dục tiên tiến và lành mạnh, phát triển một xã hội học tập. Ngày nay, do tri thức không ngừng phát triển, nên n\
gười lao động phải được trang bị kiến thức ở mức cao hơn, chuyên sâu hơn, đặc biệt là những lĩnh vực liên quan đến kỹ thuật để tăng khả năng phổ cập, giải thích và áp dụng tri thức mới. Chính sách giáo dục ở nước ta hiện nay phải nhằm khắc phục tình trạng ngày càng thiếu hụt lao động có trình độ cao đặc biệt về công nghệ thông tin và tri thức trong khi lao động giản đơn, dư thừa quá nhiều.
Trong giai đoạn trước mắt chúng ta cần tăng cường đầu tư vào việc phổ cập giáo dục cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng hướng vào người nghèo để giải quyết căn bản tình trạng quá nhiều lao động giản đơn và đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế, chú trọng phổ biến thông tin và tri thức đến các tầng lớp dân chúng. Đồng thời, cần tăng đầu tư vào giáo dục đại học và sau đại học, đặc biệt là các lĩnh vực kỹ thuật để thu nhận được công nghệ trong một thế giới thường xuyên có sự biến chuyển tri thức. Khuyến khích liên kết giữa các trường đại học, viện nghiên cứu trong đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng, triển khai, đổi mới phương pháp và giáo trình giảng dạy.

Học thuyết Pháp trị cũng đã đề cập đến vấn đề công bằng trước luật pháp. Trong giáo dục cũng vậy, ai cũng có quyền bình đẳng, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo… mọi người đều như nhau ai cũng được học hành. Và một điểm đáng chú ý đó là pháp luật đưa ra phải thực thi thì phù hợp với thực tế, giáo dục phải phù hợp thực tiễn và cần kết hợp hài hòa giữa việc học và hành.
Quan tâm đến yếu tố con người, bởi thế kỷ XXI – kỷ nguyên cuả sự bùng nổ công nghệ thông tin mà khoa học công nghệ ngày một nâng cao. Vì vậy, trong lĩnh vực giáo dục con người phải quan niệm con người phát triển toàn diện, đặc biệt là yếu tố tâm lý con người. Bởi theo quan niệm tính ác của ông thì con người sinh ra đã có tính ác “nhân chi sơ tính bổn ác”, nên giáo dục phải làm sao tác động đến nhận thức của trẻ cho trẻ trở thành một con người, một công tốt có ích cho gia đình và xã hội Việt Nam. Bên cạnh đó, học thuyết của Hàn Phi Tử cũng nói lên một điều là chúng ta phải nâng cao chuẩn đánh giá, con người không chỉ có đạo đức mà còn phải có tài, biết thời thế mà thích ứng….

VI.Liên hệ học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử với nền giáo dục Việt Nam
Như chúng ta được biết, tư tưởng pháp trị vang bóng một thời của Hàn Phi Tử có cách đây hàng nghìn năm, nhưng với sức lan tỏa rất rộng của nó thì cho đến thời điểm bây giờ tư tưởng ấy vẫn được áp dụng rất rộng rãi với sức ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực khác nhau như pháp luật, chính trị, triết học, xã hội, kinh tế, quân sự… và đặc biệt là không thể vắng thiếu trong lĩnh vực giáo dục.
Nước ta đang tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Công cuộc đổi mới của nước ta đang trải qua nhiều chặng đường, với từng bước đi thích hợp. Đảng ta chủ trương phát triển nền “kinh tế tri thức” định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình đó, việc xây dựng một hệ thống giáo dục để đáp ứng yêu cầu xã hội là một việc làm cần thiết và quan trọng hơn bao giờ hết.

Và để xây dựng hệ thống giáo dục như vậy, đòi hỏi đặt ra những nguyên tắc, phương pháp nhất định. Giữa 2 loại giá trị khoa học và ý thức hệ, hay cụ thể hơn giữa các giá trị ý thức hệ và giá trị tư duy độc lập phê phán, có thể có khi mâu thuẫn với nhau. Các triết lý giáo dục hiện đại giải quyết mâu thuẫn này không phải bằng cách hy sinh một trong 2 loại giá trị đó mà bằng phương pháp giáo dục khêu gợi tự do tư tưởng của người học, không áp đặt, không bắt buộc người học phải chấp nhận mà hướng dẫn để người học tự giác đi đến tiếp thụ nội dung giáo dục, qua việc khuyến khích người học nêu ra những chỗ mình chưa hiểu, thậm chí không đồng ý (với những lý lẽ tại sao). Tất nhiên để áp dụng phương pháp giáo dục này, người thầy phải có trình độ cần thiết tức là phải được đào tạo và tuyển chọn có bài bản. Nhiệm vụ của người thầy, dù ở bậc học nào, là phải truyền thụ cho người học nội dung giáo dục đúng theo như đã quy định, nhưng khi làm nghiên cứu khoa học (đối với thầy ở bậc đại học) thì được tự do đặt và giải quyết vấn đề theo cách hiểu của mình, miễn là tuân thủ những quy tắc của phương pháp luận khoa học.

Như vậy xét đến cùng, trong bất cứ triết lý giáo dục nào, sứ mạng của giáo dục đối với người học là phải chuẩn bị cho người học gia nhập và có tác dụng tích cực đối với một xã hội nhất định nào đó, hoặc là một xã hội chưa có nhưng đang hình thành như đối với nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, hoặc là một xã hội đang có và đang trong quá trình phát triển nhiều hay ít, nhanh hay chậm, trên đà hưng thịnh hay suy thoái như trong các xã hội tư bản chủ nghĩa hiện tại cũng như trước đó.
Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử có nêu lên quan niệm xem pháp luật là công cụ hữu hiệu nhất. Thì trong giáo dục vẫn có luật riêng dành cho mình ví dụ như luật giáo dục, luật học sinh sinh viên, luật giáo viên, quy chế tuyển sinh, quy chế nhà trường, … để tạo ra một chuẩn quy định. Tất cả mọi người căn cứ vào quy định đó mà thực hiện, cũng như thấy được trách nhiệm của mình, có như vậy thì mới đi vào nề nếp và thực hiện tốt được.

Như chúng ta được biết, trong tất cả các bậc giáo dục từ mầm non, tiểu học đến bậc đại học hay sau đại học đều đề ra cho mình những quy định cụ thể và rõ ràng. Một minh chứng cụ thể đó là ngày 25/4/2010, Bộ GD-ĐT đã tổ chức hội thảo định hướng xây dựng Luật giáo dục đại học. Giáo dục đại học đang trên đà đổi mới, từ cơ cấu quản lý đến nội dung đào tạo… Luật giáo dục ĐH ra đời nhằm tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đổi mới này.

Luật giáo dục Đại học ra đời là một tất yếu trong bối cảnh các trường Đại học đang chuyển biến mạnh mẽ, từ cơ cấu quản lý, nội dung đào tạo, hợp tác quốc tế, hợp tác với các doanh nghiệp nhằm đào tạo theo nhu cầu của xã hội…
Bên cạnh đó, sau khi gia nhập WTO, giáo dục Đại học Việt Nam đang chuyển dần sang từ mô hình cung ứng chuẩn độc quyền sang cung ứng chuẩn thị trường. Đội ngũ giảng viên chuyển từ vai trò thụ động hiện nay sang vai trò chủ động trong hoạt động chuyên môn (bao gồm tuyển sinh, xây dựng chương trình, hợp tác quốc tế trong giảng dạy…).
Với những hoạt động mới mẻ đó, trước sự thay đổi về chất trong giáo dục Đại học, thì Luật giáo dục ĐH ra đời sẽ tạo ra hành lang pháp lý cho các hoạt động đổi mới, tạo sự phát triển bền vững ở các lĩnh vực như sử dụng nguồn nhân lực, phương pháp giảng dạy, đào tạo giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục...

Luật sẽ điều chỉnh các nội dung liên quan về giáo dục đại học từ trước đến nay vốn không đầy đủ, tản mạn, thiếu hệ thống, hiệu lực pháp lý không cao và không phù hợp.
Bên cạnh đó, vào ngày 29/4/2010, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã tổ chức hội thảo: "Cơ sở khoa học của việc xây dựng Luật Giáo viên" với sự tham gia của các chuyên gia giáo dục trong nước và quốc tế. Tại hội thảo, các đại biểu đã cùng thảo luận về các vấn đề: nhân tố chi phối nội dung Luật Giáo viên, chức danh nhà giáo đại học, chuẩn nghề nghiệp giáo viên phổ thông với việc nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo hiện nay...

Theo Phó vụ trưởng Vụ Pháp chế (Bộ Giáo dục và Đào tạo) Nguyễn Huy Bằng, cơ sở khoa học để xây dựng Luật Giáo viên dựa trên nhiều yếu tố: cụ thể hoá các quy định về nhà giáo trong Luật Giáo dục, nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc một số quy định về giáo viên trong các văn bản luật cũng như kinh nghiệm xây dựng đội ngũ giáo viên của một số nước có nền giáo dục tiên tiến...

Trong hệ thống pháp luật hiện nay của Việt Nam, các quy định trực tiếp liên quan đến nhà giáo nằm ở nhiều văn bản khác nhau. Văn bản quy định tập trung nhất, rõ ràng nhất là Luật Giáo dục 2005 cũng chưa "phủ sóng" hết các quan hệ về nhà giáo. Một số quy định còn chung chung, thiếu rõ ràng như các vấn đề về đạo đức nhà giáo, chuẩn nghề nghiệp của nhà giáo, chế độ làm việc, chính sách đối với nhà giáo... Thậm chí, khái niệm nhà giáo cũng chưa rõ ràng, chưa phân biệt rõ được sự khác biệt giữa giảng viên và giáo viên. Do vậy, các đại biểu đề nghị khi xây dựng Luật Giáo viên cần phải làm rõ những khái niệm căn bản này để nâng cao hiệu quả pháp lý.

GS.TS Đinh Quang Báo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu sư phạm, ĐH Sư phạm Hà Nội cho rằng, nhiều năm nay chúng ta thực hiện nhiều biện pháp kỷ luật đối với học sinh như đánh trượt, không cho lên lớp thậm chí đuổi học những học sinh vi phạm đạo đức nghiêm trọng nhưng ít khi quy trách nhiệm có tính pháp luật cho giáo viên gây ra những hậu quả đó. Đây là một thiếu sót lớn vì tác động của giáo viên tới học sinh là rất lớn và giáo viên cần phải có hành vi ứng xử phù hợp để tác động tốt tới học sinh. Do vậy, thay vì chỉ có chuẩn nghề nghiệp cho giáo viên, Luật Giáo viên cần quy định cả những tiêu chuẩn đạo đức, chế tài xử phạt đối với những giáo viên vi phạm Luật...

Trong học thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử cũng nói rõ cho chúng ta thấy: luật đề ra với những quy định cụ thể để thực thi, nhưng tùy hoàn cảnh thì những nội dung trên có thể thay đổi. Trong nền giáo dục Việt Nam cũng vậy, luật giáo dục trong mỗi thời điểm có thể sửa đổi, bổ sung để có thể khắc phục những mặt khuyết thay vào đó là bổ sung những cái mới để đáp ứng lại yêu cầu của thời đại đặt ra.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục được thực hiện theo các quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc sau:
Đường lối, quan điểm của Đảng và các chủ trương, chính sách về giáo dục phải được quán triệt trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục. Đặc biệt là các quan điểm về giáo dục đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 2 khoá X, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X và Thông báo số 242-TB/TW ngày 15 tháng 4 năm 2009 kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII, phương hướng phát triển giáo dục đến năm 2020.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục phải xuất phát từ những đòi hỏi khách quan, lựa chọn những nội dung thực sự cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề thực sự bức xúc trong thực tiễn, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động giáo dục và trong công tác quản lý giáo dục, góp phần đổi mới giáo dục và thực hiện "phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu".
Các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục phải phù hợp, thống nhất, đồng bộ với quy định của Hiến pháp, các bộ luật và luật hiện hành; phù hợp với các cam kết và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
Giống với học thuyết của Hàn Phi Tử thì trong giáo dục cũng có thưởng và phạt. Minh chứng cụ thể trong giáo dục như: đối với những giảng viên, giáo viên trong quá trình công tác của mình nếu có đóng góp cho ngành giáo dục thì sẽ có những khuyến khích lao động. Ở học sinh, sinh viên cũng thế nếu có tinh thần ham học hỏi, phấn đấu trong học tập có thành tích cao thì sẽ có những nguồn học bổng cấp cho các bạn. Dẫu biết rằng, những nguồn khuyến khích ấy có thể là không lớn nhưng phần nào cũng khích lệ tinh thần cho họ, để họ cảm thấy có sự quan tâm…


...... hsbc Quốc An hsbc ......
Bài viết chắc hẳn còn nhiều thiếu sót, mong các bạn góp ý cho QA!

Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
HÀN PHI TỬ (P2)
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
NGÔI NHÀ TRÁI TIM :: TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC :: Kiến thức chuyên ngành :: Các chuyên ngành khác có liên quan-
Chuyển đến