NGÔI NHÀ TRÁI TIM

Hãy cho - Hãy nhận - Hãy sống bằng cả con tim
 
Trang ChínhTrang Chính  CalendarCalendar  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng NhậpĐăng Nhập  

Share | 
 

 Tâm lý học đại cương

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:07 pm

Các bạn thân mến! dù môn TLH đại cương, nhiều người trong chúng ta đã học rồi, nhưng duy vân post lại để các bạn ôn tập và để các bạn chưa được học tham khảo.
Bài 1: TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC


ĐỐI TƯỢNG CỦA TÂM LÝ HỌC
:
1. Tâm lý học là gì?
Tâm lý học là khoa học nghiên cứu tâm lý. Khoa học tâm lý ra đời từ năm 1879, chủ yếu nghiên cứu đời sống tâm hồn của con người.

2. Đối tượng của tâm lý học:
Đối
tượng nghiên cứu của tâm lý học là toàn bộ đời sống tâm lý của con
người như: cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng, trí nhớ, tình cảm,
nhu cầu, hứng thú, năng lực, khí chất, tính cách…

II. BẢN CHẤT HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ NGƯỜI:
1.Tâm lý có bản chất phản ánh: Tâm lý là hình ảnh của từng người về hiện thực khách quan.
Tất
cả các hiện tượng tâm lý, từ những hiện tượng tâm lý đơn giản đến những
thuộc tính, phẩm chất phức tạp của nhân cách con người đều tồn tại ở
trong não dưới dạng hình ảnh này hay hình ảnh khác với mức độ phức tạp
khác nhau. Điều kiện đầu tiên để có các hình ảnh đó là phải có các hiện
tượng, sự vật khách quan của thế giới bên ngoài tác động tới các giác
quan và não bộ bình thường của con người.

Tâm lý mang tính chủ
quan của từng người. Tâm lý là phản ánh tồn tại khách quan, nhưng sự
phản ánh tâm lý không máy móc, nguyên xi như phản ánh cơ học, mà tâm lý
là tổng hoà các hình ảnh chủ quan ( hình ảnh tâm lý) về tồn tại khách
quan.

2. Bản chất xã hội – lịch sử của tâm lý.
Để tồn
tại và phát triển, thế hệ trước đã truyền đạt kinh nghiệm xã hội- lịch
sử cho thế hệ sau. Thế hệ sau tiếp thu những kinh nghiệm và sáng tạo
nên những giá trị vật chất, tinh thần mới. Qua đó tâm lý con người được
hình thành và phát triển

Con người tiếp thu nền văn minh nhân
loại và biến thành tâm lý của bản thân. Tâm lý mỗi người có cái chung
của loài người, của dân tộc, của vùng, của địa phương nhưng cũng có cái
riêng của mỗi con người cụ thể.

Như vậy, mỗi người có một đời
sống tâm lý riêng, một tâm hồn riêng. Tâm lý mỗi người là kinh nghiệm
xã hội- lịch sử chuyển thành kinh nghiệm của bản thân.

3. Tâm lý có bản chất phản xạ.
Tất
cả các hình ảnh tâm lý, các kinh nghiệm sống bản thân đều tồn tại trong
não bộ. Nhưng không phải cứ có não là có tâm lý. Muốn có tâm lý phải có
tồn tại khách quan tác động vào não và não người phải tiếp nhận được
tác động ấy.

Để tiếp nhận tác động từ bên ngoài vào, não phải
hoạt động. Não hoạt động theo cơ chế phản xạ. Phản xạ có bốn khâu: Khâu
dẫn vào, khâu trung tâm, khâu dẫn ra, khâu liên hệ ngược.

Có hai
loại phản xạ: phản xạ không điều kiện và phản xạ có điều kiện. Phản xạ
không điều kiện là cơ sở sinh lý thần kinh của bản năng, phản xạ có
điều kiện là cơ sở sinh lý của các các hoạt động tâm lý khác, đặc trưng
của con người. Nhưng mỗi hiện tượng tâm lý không phải gồm một phản xạ
có điều kiện mà gồm nhiều hoặc một hệ thống phản xạ có điều kiện.

Như vậy, muốn có tâm lý nhất thiết phải có phản xạ, đặc biệt là phản xạ có điều kiện. Tâm lý có bản chất phản xạ.

III.CÁC LOẠI HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ:
Có nhiều cách phân loại các hiện tượng tâm lý:

1.
Cách phân loại phổ biến trong các tài liệu tâm lý học là việc phân loại
các hiện tượng tâm lý theo thời gian tồn tại của chúng và vị trí tương
đối của chúng trong nhân cách. Theo cách phân loại này, các hiện tượng
tâm lý có ba loại chính:
a. Các quá trình tâm lý là những hiện
tượng tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễn
biến, kết thúc tương đối rõ ràng. Người ta phân biệt thành ba quá trình
tâm lý:
+. Các quá trình nhận thức gồm cảm giác, tri giác, trí nhớ, tưởng tượng, tư duy.
+. Các quá trình cảm xúc biểu thị sự vui mừng hay tức giận, dễ chịu hay khó chịu…
+. Quá trình hành động ý chí.
b.
Các trạng thái tâm lý là những hiện tượng tâm lý diễn ra trong thời
gian tương đối dài, việc mở đầu và kết thúc không rõ ràng, như: chú ý,
tâm trạng…
c. Các thuộc tính tâm lý là những hiện tượng tâm lý
tương đối ổn định, tạo thành những nét riêng của nhân cách. Người ta
thường nói tới bốn nhóm thuộc tính tâm lý cá nhân như: xu hướng, tính
cách, khí chất và năng lực.
2. Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý thành: các hiện tượng tâm lý có ý thức và các hiện tượng tâm lý chua được ý thức.
3. Người ta còn phân biệt hiện tượng tâm lý thành: hiện tượng tâm lý sống động và hiện tượng tâm lý tiềm tàng.
4. Cũng có thể phân biệt hiện tượng tâm lý của cá nhân với hiện tượng tâm lý xã hội.

Bài 2: Ý THỨC VÀ VÔ THỨC

I. Ý THỨC:

1.Khái niệm:
Ý
thức là một hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới
có. Đó là khả năng con người hiểu được các tri thức (hiểu biết) mà
người đó đã tiếp thu được.

Có thể ví ý thức như “ cặp mắt thứ
hai” soi vào kết quả (các hình ảnh tâm lý) do “cặp mắt thứ nhất“ (cảm
giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, cảm xúc…) mang lại. Với ý nghĩa đó có
thể nói: Ý thức là tồn tại được nhận thức.

2. Đặc điểm của ý thức:
Các
hiện tượng tâm lý có ý thức của một người đều được người đó nhận thức.
Nghĩa là, con người biết rõ mình đang làm gì, nghĩ gì, hiểu rõ hành vi
của bản thân đúng hay sai, tốt hay xấu.
Ý thức được biểu hiện bằng ngôn ngữ. Con người dùng ngôn ngữ để nhận xét, đánh giá phân tích những hiện tượng tâm lý của mình.
Các hiện tượng tâm lý có ý thức của một người thường bao hàm thái độ ít nhiều rõ rệt của người ấy.
Ở mức độ cao, ý thức thường được kèm theo sự dự kiến trước, tính có chủ định… và nhờ đó mà dẫn tới hành động.
3. Sự hình thành và phát triển ý thức:
Khác
với con vật, con người không chỉ thích ứng một cách thụ động với môi
trường không chỉ lấy những gì có sẵn trong thiên nhiên mà con người chủ
yếu tác động làm biến đổi thiên nhiên để tạo ra những sản phẩm thoả mãn
nhu cầu của mình. Sở dĩ con người làm được như vậy là nhờ lao động. Lao
động là một quá trình đòi hỏi con người phải thấy trước kết quả lao
động, có chương trình lao động, có phương pháp lao động, biết phân tích
đánh giá kết quả lao động. Làm như vậy, chính là ý thức. Như vậy ý thức
ra đời trong lao động.
Khi lao động cùng nhau, con người cần phải
nói với nhau ý muốn của họ, xác định mục đích của cả nhóm, cùng nhau
bàn bạc… Nhờ đó làm nảy sinh ngôn ngữ. Nhờ ngôn ngữ con người gọi tên
sự vật, hiện tượng, đánh giá hành vi, hành động của mình hay của cả
nhóm. Như vậy ngôn ngữ là một yếu tố hình thành nên ý thức.
Lao
động là một dạng hoạt động tập thể. Ngôn ngữ là hiện tượng xã hội. Vì
vậy, ý thức ngay từ đầu là sản phẩm của xã hội và luôn luôn là sản phẩm
của xã hội. Cùng với lao động và ngôn ngữ, xã hội là yếu tố hình thành
nên ý thức.
Ở mỗi người, ý thức hình thành bằng hoạt động của bản
thân thông qua sản phẩm của hoạt động, trong quan hệ giữa mình và người
khác và sử dụng ngôn ngữ của mình làm công cụ.
II. VÔ THỨC:

1. Khái niệm:
Trong
cuộc sống, cùng với các hiện tượng tâm lý có ý thức, chúng ta thường
gặp những hiện tượng tâm lý chưa có ý thức diễn ra chi phối hoạt động
của con người (người mắc chứng mộng du, người bị thôi miên…). Hiện
tượng tâm lý không ý thức, chưa nhận thức được, trong tâm lý học gọi là
vô thức.

Vô thức là các hiện tượng tâm lý mà con người chưa nhận
thức được, không diễn đạt được bằng ngôn ngữ cho mình và cho người khác
hiểu.

2. Đặc điểm của vô thức:
Con người không nhận
thức được các hiện tượng tâm lý, các hành vi, cảm nghĩ của mình. Những
cảm nghĩ mà con người không nhận ra được, chúng như ẩn náu trong một “
cõi lòng” tối tăm, nhưng vẫn chi phối hành vi.
Không diễn đạt được bằng ngôn ngữ cho mình và cho người khác hiểu.

thức không bao hàm thái độ của con người. Lúc ở trạng thái vô thức, con
người không nhận xét, đánh giá gì về hành vi, thái độ, ngôn ngữ, cách
cư xử của mình.
Vô thức thường không kèm theo sự dự kiến trước, không có chủ định
3. Vai trò của vô thức:

thức đôi khi đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh, điều khiển
hành vi của con người. Qua phân tích các hành vi biểu hiện ở trạng thái
vô thức giúp ta hiểu được các hiệ tượng tâm lý (thái độ, suy nghĩ, quan
hệ… của con người)
Toàn bộ đời sống tâm lý trẻ từ lọt lòng đến
khoảng 15 – 18 tháng tuổi do vô thức điều khiển. Một số biểu hiện vô
thức trong đời sống tâm lý của trẻ là:
+ Trẻ chưa nhận ra được sơ đồ thân thể của mình, chưa nhận biết mình đau ở đâu…
+ Chưa biết chủ động hướng âm thanh ngôn ngữ về phía người thân quen.
+ Chưa biết nhận ra mẹ, ra người thân.
+ Chưa sử dụng được âm thanh, lời nói để diễn đạt được nhu cầu sinh lý của mình.
+ Trẻ làm theo, nói theo, bắt chước hành vi của người lớn một cách không chủ định…
III. TỰ Ý THỨC:

1.Khái niệm:
Tự ý thức là sự phản ánh bản thân mình theo một mẫu mực nào đó và cố gắng hoạt động theo đúng khuôn mẫu đó.

Tự
ý thức là mức độ phát triển cao của ý thức. Tự ý thức bắt đầu hình
thành từ tuổi lên ba. Thông thường tự ý thức biểu hiện ở các mặt sau:

+ Cá nhân tự nhận thức về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội.
+ Có thái độ đối với bản thân, tự nhận xét, đánh giá.
+ Tự điều khiển, tự điều chỉnh hành vi theo mục đích tự giác.
+ Có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện
2. Vai trò của tự ý thức:
Tự ý thức tạo điều kiện cho con người tự điều khiển, điều chỉnh thái độ, hành vi, hành động của họ.
Giúp
con người xác định mục đích phù hợp, đánh giá mục đích hành động trong
mối tương quan với những đặc điểm của bản thân, lựa chọn các phương
tiện, biện pháp hành động phù hợp với khả năng, nhu cầu của bản thân.
Tự ý thức là điều kiện để con người trở thành chủ thể hành động độc lập, trở thành chủ thể của xã hội.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:08 pm

Bài 3: HOẠT ĐỘNG, GIAO TIẾP VÀ NHÂN CÁCH.

I. HOẠT ĐỘNG:

1.Khái niệm về hoạt động:
Hoạt
động là phương thức tồn tại của con người bằng cách tác động vào đối
tượng để tạo ra một sản phẩm tương ứng, nhằm thoả mãn (trực tiếp hay
gián tiếp ) nhu cầu của bản thân, nhóm và xã hội.

2. Cấu trúc của hoạt động:
Tất cả các hoạt động đều có một cấu trúc chung. Cấu trúc đó được nhà tâm lý học A.N Lêônchiev mô tả như sau:

Độngcơ
của hoạt động là cái thúc đẩy con người hoạt động. Tuy nhiên động
cơkhông hình thành rõ ngay một lúc. Động cơ thường hiện thân trong
đốitượng, cùng biến động theo đối tượng, mà lộ rõ dần dần theo tiến
trìnhcủa hoạt động.
Hoạt động hợp thành bởi các hành động như là các bộ
phận
của hoạt động. Cái mà hành động nhằm tới gọi là mục đích. Có thểcoi
động cơ là mục đích chung, còn mục đích mà hành động nhằm tới là mục
đích bộ phận. Có thể coi mục đích chung là động cơ xa và mục đích bộ
phận là động cơ gần.
Hành động bao giờ cũng để giải quyết một
nhiệm
vụ nhằm đạt tới mục đích đề ra trong những điều kiện cụ thể nhất định,
tức là mục đích bộ phận phải được cụ thể hoá thêm một bước nữa,sự cụ
thể hoá này được quy định bởi những điều kiện cụ thể nơi diễn ra hành
động. Nói cách khác là hành động của chủ thể phải hành động theo một
cách nào đó ứng với phương tiện tức là thao tác. 3. Phân loại hoạt động:
Có nhiều cách phân loại hoạt động:
a. Xét về phương diện phát triển cá thể, ta thấy trong đời người có bốn loại hình hoạt động kế tiếp nhau:
Hoạt động vui chơi
Hoạt động học tập
Hoạt động lao động
Hoạt động nghỉ ngơi
Đối
với sự phát triển của từng con người cụ thể, trong mỗi giai đoạn hoặc
thời kỳ phát triển của nhân cách con người, tuy có nhiều loại hình hoạt
động trong đó vẫn có một (hoặc có thể nhiều hơn ) hoạt động đóng vai
trò chủ đạo.

b. Xét về phương diện sản phẩm (vật chất hay tinh thần ) người ta chia thành hai loại hoạt động:
Hoạt động thực tiễn
Hoạt động lý luận
c. Còn có cách phân loại khác, chia hoạt động thành bốn loại:
Hoạt động biến đổi
Hoạt động nhận thức
Hoạt động định hướng giá trị
Hoạt động giao lưu
II. GIAO TIẾP:

1. Khái niệm giao tiếp:
Giao
tiếp là quá trình tiếp xúc tâm lý giữa con người và con người nhằm mục
đích trao đổi tư tưởng, tình cảm, vốn sống, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ
xảo nghề nghiệp, hoàn thiện nhân cách bản thân.

Giao tiếp là phương thức tồn tại của con người, là phương tiện cơ bản để hình thành nhân cách trẻ.

2. Chức năng của giao tiếp:
Chức
năng thông báo, định hướng: Qua quá trình giao tiếp, con người thông
báo cho nhau thông tin, tư tưởng, tình cảm… giúp con người định hướng
hoạt động của mình.
Chức năng điều khiển, điều chỉnh: Qua tiếp
xúc, trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thái độ… con người điều
khiển, điều chỉnh hành vi, thái độ, hành động của mình cho phù hợp yêu
cầu hoạt động.
Chức năng liên kết (nối mạch, tiếp xúc ): Nhờ có giao tiếp con người hợp đồng được cùng nhau để làm việc cùng nhau.
Chức năng đồng nhất: Qua giao tiếp, cá nhân sẽ hoà nhập vào trong các nhóm xã hội.
3. Các loại giao tiếp:
Có nhiều cách phân loại giao tiếp:

a. Theo phương tiện giao tiếp, có thể có ba loại giao tiếp sau:

Giao tiếp vật chất: giao tiếp thông qua hành động với vật thể.
Giao tiếp bằng tín hiệu: là loại giao tiếp bằng điệu bộ, cử chỉ, nét mặt…
Giao
tiếp bằng ngôn ngữ:đây là hình thức giao tiếp đặc trưng của con người,
xác lập và vận hành mối quan hệ người – người trong xã hội.
b. Theo khoảng cách, có thể có hai loại giao tiếp cơ bản:

Giao tiếp trực tiếp: giao tiếp mặt đối mặt, các chủ thể trực tiếp phát và nhận tín hiệu với nhau.
Giao tiếp gián tiếp: qua thư từ, báo chí truyền hình…
c. Qua quy cách, người ta chia hai loại giao tiếp:

Giao tiếp chính thức: giao tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ chung theo chức trách, quy định, thể chế.
Giao
tiếp không chính thức: giao tiếp giữa những người hiểu biết rõ về nhau,
không câu nệ thể thức, mà theo kiểu thân tình, nhằm mục đích chính là
thông cảm, đồng cảm với nhau.
Các loại quan hệ trên luôn tác động
qua lại, bổ sung cho nhau, làm cho mối quan hệ giao tiếp của con người
vô cùng đa dạng, phong phú.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:09 pm

III. HÀNH VI:

1. Khái niệm hành vi:
Trong
cuộc sống, không phải lúc nào con người cũng chỉ tiến hành hoạt động,
hành động với ý thức, mục đích động cơ rõ rệt, con người còn có những
hành động mà sự tham gia của ý thức không rõ rệt hoặc không có ý thức
tham gia. Đó là những hành động bản năng và hành động tự động hoá.
Những hành động này ta có thể gọi là hành vi.

Hành vi là toàn bộ
những cử chỉ, phản ứng, thao tác trả lời đáp ứng những yêu cầu tác động
của thế giới khách quan hoặc do nhu cầu của con người.

2. Phân loại hành vi:
Theo lịch sử tiến hoá có ba loại hành vi:

a. Hành vi bản năng:
Bản
năng là hành vi bẩm sinh, sản phẩm của sự phát triển chủng loại di
truyền có cơ chế sinh lý là phản xạ không điều kiện hoặc chuỗi phản xạ
không điều kiện.

Bản năng xuất phát trực tiếp cơ thể và trực
tiếp thoả mãn nhu cầu cơ thể. Nhờ bản năng, mỗi thế hệ không cần được
huấn luyện đặc biệt nào vẫn có thể làm được những cái tổ tiên đã làm.


động vật và trẻ mới sinh bản năng bị chi phối bởi vô thức. Nhưng với
người trưởng thành, do giáo dục, rèn luyện, bản năng con người mang đặc
điểm lịch sử loài người, mang tính chất xã hội.

b. Hành vi kỹ xảo:
Kỹ xảo là các thao tác hành động, cơ thể tự tạo nên bằng cách luyện tập, lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục.


sở sinh lý của kỹ xảo là các phản xạ có điều kiện. Các kỹ xảo được hình
thành ở tất cả các động vật. Tuy nhiên ở người kỹ xảo chứa đựng nhiều
yếu tố trí tuệ hơn và quá trình luyện tập để hình thành kỹ xảo ở người
có sự tham gia của ý chí và ý thức với mức độ khác nhau.

c. Hành vi trí tuệ:
Hành
vi trí tuệ là hành vi đặc trưng cho các động vật bậc cao. Hành vi trí
tuệ là kiểu hành vi mềm dẻo và hợp lý nhất trong những điều kiện sống
luôn biến đổi.

IV. NHÂN CÁCH:

1. Khái niệm về nhân cách:
Nhân
cách là tổng hoà những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý được nảy sinh
hình thành và phát triển trong các mối quan hệ xã hội. Mỗi con người có
nhân cách là thành viên của các mối quan hệ xã hội, chịu sự chi phối
của các mối quan hệ đó.

2. Cấu trúc tâm lý của nhân cách:

nhiều quan điểm khác nhau về cấu trúc tâm lý của nhân cách. Ở đây chúng
ta xem xét cấu trúc tâm lý của nhân cách theo quan điểm coi nhân cách
gồm có các thành tố sau:

a. Tính cách và khí chất:

Tính cách:

Tính
cách là thái độ của con người, thể hiện mối quan hệ của người đó đối
với thế giới xung quanh, biểu lộ ra bên ngoài bằng những phương thức
hành vi quen thuộc.

Tính cách của con người là một chỉnh thể
không thể chia cắt, ta có thể xem xét tính cách qua những biểu hiện đặc
trưng từng mặt được gọi là những nét tính cách như:

Những nét
tính cách biểu hiện quan hệ của con người đối với xã hội, đối với nhóm
và những người xung quanh. Ví dụ: Tinh thần giúp đỡ bạn bè, lòng nhân
ái, tính cởi mở …
Những nét tính cách biểu hiện quan hệ của con người đối với lao động. Ví dụ: Yêu lao động, tính kỷ luật, tinh thần tiết kiệm…
Những nét tính cách biểu hiện quan hệ của con người đối với chính mình. Ví dụ: Tính khiêm tốn, tự trọng, tự ti…
Những nét tính cách biểu hiện ý chí của con người. Ví dụ: Tính mục đích, tính độc lập, tính tự kiềm chế…
Khi xem xét, đánh giá tính cách của trẻ, giáo viên cần chú đến từng nét tính cách trong mối quan hệ lẫn nhau.

Khí chất:

Khí
chất là thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, biểu hiện cường độ,
tiến độ, nhịp độ của các hoạt động tâm lý thể hiện sắc thái của hành
vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân.

Các kiểu khí chất:

+
Kiểu khí chất linh hoạt: Những trẻ thuộc loại khí chất này thường năng
động, linh hoạt, ham thích tìm tòi cái mới. Các em thường nhạy cảm, vui
vẻ, nhưng xúc cảm không bền vững, sâu sắc. Các em dễ tiếp xúc, dễ hoà
nhập vào nhóm bạn, dễ tiếp thu cái mới nhưng cũng dễ di chuyển chú ý,
chóng quên, khó ngồi yên một chỗ. Nếu có phương pháp giáo dục thích hợp
thì trẻ sẽ hăng say học tập, có lòng vị tha, quan tâm bạn bè… ngược
lại, nếu phương pháp giáo dục không tốt trẻ sẽ dễ bị nhẹ dạ, nông nổi,
vô tâm, không thực hiện công việc đến nơi đến chốn…
+ Kiểu khí
chất bình thản: Trẻ thuộc loại này thường điềm tĩnh, chậm chạp, không
hiếu động, khó quen với hoàn cảnh mới. Trong vui chơi, sinh hoạt thường
kiên trì, cố gắng hoàn thành công việc. Nếu biết động viên, lôi kéo trẻ
vào hoạt động của nhóm thì sẽ dễ hình thành những nét tính cách tốt như
chuyên cần, kiên trì, chắc chắn. Ngược lại sẽ dễ phát triển tính ỳ, thụ
động, thờ ơ, lãnh đạm…
+ Kiểu khí chất nóng nảy: Trẻ thuộc loại
này thường dễ xúc động, hành động nhanh nhưng không bền vững. Xúc cảm
mạnh, dễ thay đổi, dễ cáu, tính tình nóng nảy. Nếu giáo viên nhẹ nhàng,
tế nhị, không quát tháo, trẻ sẽ nhiệt tình, hăng say, có sáng kiến.
Ngược lại, trẻ dễ thô lỗ, cục cằn, dễ bị kích động.
+ Kiểu khí
chất ưu tư: Trẻ thuộc loại này các quá trình tâm lý diễn ra chậm chạp,
khó đáp ứng với những kích thích mạnh, kéo dài, khó thích nghi với môi
trường mới. Trẻ dễ lo sợ, xúc cảm xuất hiện muộn nhưng sâu sắc, bền
vững. Nếu giáo viên tế nhị, luôn động viên, khuyến khích trẻ sẽ tạo cho
trẻ tính kiên trì, tế nhị, nhạy cảm. Ngược lại sẽ làm trẻ nhút nhát, xa
lánh bạn bè.

Bốn kiểu khí chất trên không có kiểu nào là tốt
và xấu, mỗi kiểu đều có mặt tích cực và tiêu cực. Dù trẻ thuộc bất kỳ
kiểu khí chất nào, ta đều có thể giáo dục, hình thành ở trẻ những nét
tính cách tích cực, những phẩm chất tốt của nhân cách.
b. Xu hướng và năng lực:
Xu hướng:
Xu hướng xác định mục đích mà cá nhân hướng tới, xác định động cơ tương ứng với hoạt động của con người.

Các mặt biểu hiện của xu hướng:
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý biểu thị mối quan hệ tích cực của cá
nhân đối với hoàn cảnh, là sự đòi hỏi tất yếu mà cá nhân cần thoả mãn
để tồn tại và phát triển.
+ Hứng thú: Là thái độ đặc biệt của cá
nhân với một đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa
mang lại một khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động.
Lý tưởng: Là một mục tiêu cao đẹp được phản ánh vào đầu óc con người
dưới hình thức một hình ảnh mẫu mực và hoàn chỉnh có tác dụng lôi cuốn
mạnh mẽ toàn bộ cuộc sống của cá nhân trong thời gian tương đối lâu dài
vào hoạt động nhằm vươn tới mục tiêu cao đẹp đó.
+ Thế giới quan: Là hệ thống quan điểm của mỗi người về thế giới.
Niềm tin: Là cái kết tinh, đọng lại thành chân lý vững bền, không thay đổi trong nhận thức và tình cảm của mỗi người.

Năng lực:

Nănglực là những đặc điểm tâm lý cá nhân đáp ứng được đòi hỏi của hoạt động
nhất định nào đó và là điều kiện để thực hiện có kết quả hoạt động đó.

Tiền đề tự nhiên của sự phát triển năng lực gọi là tư chất.

Sự xuất hiện sớm (lúc tuổi còn nhỏ ) của năng lực ở mức độ cao gọi là năng khiếu.

3. Các yếu tố chi phối sự hình thành và phát triển nhân cách:
a. Yếu tố bẩm sinh di truyền:
Các
yếu tố bẩm sinh di truyền như đặc điểm hoạt động của hệ thần kinh, cấu
tạo của não, cấu tạo và hoạt động của các giác quan…Những yếu tố này
sinh ra đã có do được bố mẹ truyền lại hoặc tự nảy sinh do biến dị (bẩm
sinh ).

Các yếu tố bẩm sinh, di truyền đóng vai trò tiền đề tự nhiên trong sự phát triển nhân cách.

b. Môi trường:
Môi trường tự nhiên và xã hội có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nhân cách trẻ.

Môi trường xã hội bao gồm: môi trường chính trị, kinh tế, văn hoá … có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nhân cách.

Đối
với trẻ em, môi trường gia đình, nhà trường, bạn bè, hàng xóm và những
phương tiện thông tin đại chúng… có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đối
với sự phát triển nhân cách các em.

Giáo dục của nhà trường, gia
đình và xã hội nếu được tổ chức đúng đắn, có cơ sở khoa học, đóng vai
trò chủ đạo đối với sự phát triển nhân cách trẻ.

Tuy nhiên nếu
trẻ không tham gia vui chơi với bạn bè, không bắt chước những hành vi,
cách xử sự của người lớn, không học tập thì trẻ sẽ không thể phát triển
đầy đủ những phẩm chất và năng lực của nhân cách. Vì vậy, người lớn cần
phải hướng dẫn, tổ chức và lôi kéo trẻ tham gia tích cực vào các hoạt
động để giúp hình thành và phát triển nhân cách trẻ.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:09 pm

Bài 4 : CHÚ Ý

I. KHÁI NIỆM VỀ CHÚ Ý:

1. Định nghĩa chú ý :
Chú
ý là sự tập trung vào một hay một nhóm đối tượng, sự vật nào đó để định
hướng hoạt động, bảo đảm điều kiện thần kinh – tâm lý cần thiết cho
hoạt động tiến hành có kết quả.

2. Vai trò của chú ý :
Chú
ý là điều kiện cần thiết để tiến hành hoạt động. Do tính chọn lọc của
chú ý, nên nó giúp cho hoạt động tâm lý ở người tập trung vào đối tượng
này mà bỏ qua hoặc xao lãng đối tượng khác. Nhờ vậy, hoạt động tâm lý
có ý thức hơn, các hoạt động tập trung hơn, kết quả hoạt động sẽ cao
hơn.

II. PHÂN LOẠI CHÚ Ý: Có 3 loại chú ý:

1. Chú ý không chủ định:

loại chú ý không có mục đích đặt ra trước, không cần sự nỗ lực của bản
thân. Chú ý không chủ định chủ yếu do tác động bên ngoài gây ra, phụ
thuộc vào đặc điểm của vật kích thích như :

Độ mới lạ của kích thích.
Cường độ kích thích.
Độ hấp dẫn của kích thích.
Loại kích thích này thường nhẹ nhàng, ít căng thẳng nhưng kém bền vững, khó duy trì lâu.

2. Chú ý có chủ định :

loại chú ý có mục đích định trước và phải có sự nỗ lực của bản thân. Do
đã xác định mục đích của hoạt động nên chủ thể vẫn tập trung vào đối
tượng hoạt động, vẫn tiến hành hoạt động không phụ thuộc vào các đặc
điểm của kích thích.

3. Chú ý sau chủ định :
Là chú ý
lúc đầu do mục đích định trước, về sao do hứng thú với hoạt động mà chú
ý có chủ định đã phát triển đến mức chủ thể không cần nỗ lực ý chí vẫn
tập trung vào đối tượng hoạt động.

Loại chú ý này giúp cho hoạt
động của con người giảm được căng thẳng thần kinh, giảm được tiêu hao
năng lượng. Nó bộc lộ ở trạng thái say sưa công việc của con người.

III. CÁC THUỘC TÍNH CỦA CHÚ Ý:

1.
Sức tập trung của chú ý : Là khả năng chú ý đến một phạm vi đối tượng
tương đối hẹp, cần thiết cho hoạt động lúc đó và không để ý đến mọi
chuyện khác. Số lượng các đối tượng mà chú ý hướng tới gọi là khối
lượng chú ý.
2. Cường độ của chú ý : Là sự tiêu hao năng lượng thần kinh để thực hiện hoạt động.
3.
Sự bền vững của chú ý : Là khả năng duy trì lâu dài chú ý vào một hoặc
một số đối tượng. Ngược với tính bền vững của chú ý là sự phân tán chú
ý. Tính bền vững của chú ý có liên quan mật thiết với những điều kiện
khách quan của hoạt động và những đặc điểm của mỗi cá nhân.
4.Sự di chuyển chú ý : Là khả năng chuyển chú ý từ đối tượng này sang đối tượng khác.
5. Sự phân phối chú ý : Là khả năng chú ý đồng thời tới một số đối tượng với mức độ rõ ràng như nhau.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:10 pm

Bài 5: NGÔN NGỮ

I. KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ:
Cần phân biệt khái niệm ngữ ngôn và ngôn ngữ.

1. Ngữ ngôn:
Ngữ
ngôn là một thứ tiếng của một dân tộc. Ngữ ngôn bao gồm một hệ thống
các ký hiệu, từ, ngữ và hệ thống các quy tắc ngữ pháp. Ngữ ngôn là đối
tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học.

2. Ngôn ngữ:
Ngôn
ngữ là quá trình mỗi cá nhân sử dụng một thứ ngữ ngôn để giao tiếp, để
truyền đạt để lĩnh hội những kinh nghiệm xã hội – lịch sử, hoặc để kế
hoạch hoá hoạt động của mình. Ngôn ngữ là đối tượng của tâm lý học.

Như
vậy, ngữ ngôn là phương tiện hay công cụ để giao tiếp, truyền đạt và
lĩnh hội kinh nghiệm… còn ngôn ngữ chính là quá trình sử dụng ngữ ngôn
để giao tiếp, truyền đạt, lĩnh hội kinh nghiệm.

II. CHỨC NĂNG CỦA NGÔN NGỮ:
Ngôn ngữ có bốn chức năng cơ bản là:

Chức năng chỉ nghĩa:
Là quá trình dùng một từ, một câu để chỉ một nghĩa nào đó, tức là quá trình gắn từ đó, câu đó… với một sự vật hiện tượng.

Chức năng chỉ ý:
Mỗi từ, câu… có chức năng chỉ “nghĩa” của nó đối với riêng người nói từ ấy, câu ấy, tức là chúng có ý riêng của từng người.

Chức năng thông báo:
Mỗi
quá trình ngôn ngữ đều chứa đựng một nội dung thông tin, sự biểu cảm
dùng để truyền đạt từ người này đến người kia, hay tự nói với bản thân
mình.

Chức năng điều khiển, điều chỉnh:
Ngôn ngữ có chức
năng thiết lập và giải quyết các nhiệm vụ của các hoạt động (trong đó
có hoạt động trí tuệ). Nó bao gồm kế hoạch hoá hoạt động, thực hiện
hoạt động và đối chiếu kết quả hoạt động với mục đích đã đề ra.

III. PHÂN LOẠI NGÔN NGỮ:

nhiều cách phân chia các loại ngôn ngữ. Thông thường, người ta đề cập
đến hai dạng ngôn ngữ. Ngôn ngữ bên ngoài, ngôn ngữ bên trong.

1. Ngôn ngữ bên ngoài:
Ngôn
ngữ bên ngoài là ngôn ngữ chủ yếu hướng vào người khác, nhằm mục đích
giao tiếp. Ngôn ngữ bên ngoài bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

Ngôn
ngữ nói: là thứ ngôn ngữ có trước. Ngôn ngữ nói biểu hiện bằng âm thanh
và được tiếp thu bằng cơ quan thính giác. Có hai loại ngôn ngữ nói:
ngôn ngữ đối thoại và ngôn ngữ độc thoại.
Ngôn ngữ đối thoại nhằm
trao đổi thông tin giữa hai hay một số người với nhau. Ngôn ngữ độc
thoại là loại ngôn ngữ trong đó một người nói và những người khác nghe.


Ngôn ngữ viết: ngôn ngữ viết ra đời muộn hơn ngôn ngữ nói. Ngôn
ngữ viết là ngôn ngữ được biểu hiện bằng ký hiệu, tín hiệu, chữ viết.
2. Ngôn ngữ bên trong:
Đây
là một dạng đặc biệt của ngôn ngữ, nó hướng vào bản thân chủ thể. Ngôn
ngữ bên trong là vỏ từ ngữ của tư duy, của ý thức, giúp con người tự
điều khiển, tự điều chỉnh mình. Ngôn ngữ bên trong có thể biểu hiện qua
ngôn ngữ thầm không phát ra âm thanh hoặc ngôn ngữ bên trong thực sự
dành cho bản thân.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:11 pm

BÀI 6: NHẬN THỨC CẢM TÍNH

Nhận thức cảm tính là mức độ nhận thức đầu tiên bao gồm cảm giác và tri giác.

I. ĐỊNH NGHĨA CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:

1. Cảm giác:
Cảm
giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính
của sự vật, hiện tượng khi chúng trực tiếp tác động vào giác quan.

2. Tri giác:
Tri
giác là quá trình nhận thức phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính
của sự vật hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào các giác
quan.

II. ĐẶC ĐIỂM CỦA CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:

1. Đặc điểm của cảm giác:
Là quá trình tâm lý, cảm giác có mở đầu, diễn biến, kết thúc một cách rõ ràng.
Cảm giác chỉ phản ánh một cách riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật hiện tượng thông qua hoạt động của từng giác quan riêng lẻ.
Cảm giác xảy ra khi sự ,vật hiện tượng trực tiếp tác động lên giác quan.
Cảm giác của con người mang bản chất xã hội.

2. Đặc điểm của tri giác:
Tri giác là sự phản ánh thế giới một cách trọn vẹn, chỉnh thể.

Tri
giác được hình thành và phát triển trên cơ sở các cảm giác, nhưng tri
giác không phải là sự cộng lại đơn giản của các cảm giác tạo thành, mà
là sự tổng hợp các thuộc tính của sự vật, hiện tượng.

Trong quá trình tri giác có sự tham gia của vốn sống, kinh nghiệm, tư duy, ngôn ngữ và nhiều chức năng tâm lý khác.

III. PHÂN LOẠI CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:

1. Các loại cảm giác:

nhiều cách phân loại cảm giác, dựa trên những tiêu chuẩn khác nhau. Nếu
phân loại dựa trên vị trí của nguồn kích thích nằm bên ngoài hay bên
trong cơ thể ta có hai nhóm cảm giác: cảm giác bên ngoài và cảm giác
bên trong.

Cảm giác bên ngoài do những kích thích bên ngoài
gây nên: cảm giác nhìn, cảm giác nghe, cảm giác ngửi, cảm giác nếm, cảm
giác da.

Cảm giác bên trong gồm: cảm giác cơ thể, cảm giác vận động, cảm giác thăng bằng.

2. Các loại tri giác:
Có nhiều cách phân loại tri giác:

Dựa
trên bộ máy phân tích giữ vai trò chính, trực tiếp nhất tham gia vào
quá trình tri giác, có thể chia thành: tri giác nhìn, tri giác nghe,
tri giác ngửi, tri giác sờ mó…
Dựa vào sự phản ánh những hình thức
tồn tại khác nhau của sự vật hiện tượng trong thế giới, có các loại tri
giác: tri giác các thuộc tính không gian của đối tượng, tri giác các
thuộc tính thời gian của đối tượng, tri giác sự chuyển động.

IV. VAI TRÒ CỦA CẢM GIÁC VÀ TRI GIÁC:

Là mức độ nhận thức đầu tiên, sơ đẳng, cảm giác có vai trò nhất định trong hoạt động nhận thức và toàn bộ đời sống con người.

Cảm
giác là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và thế giới xung quanh. Nhờ
mối liên hệ đó mà cơ thể có khả năng định hướng và thích nghi với môi
trường.

Cảm giác giúp con người thu nhận nguồn tài liệu trực quan sinh động, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn.

Tri
giác giúp con người định hướng nhanh chóng và chính xác hơn, giúp con
người điều chỉnh một cách hợp lý hoạt động của mình trong thế giới,
giúp con người phản ánh thế giới có lựa chọn và có tính ý nghĩa.

Trong
giáo dục trẻ tuổi mầm non, cảm giác và tri giác có vai trò quan trọng.
Trẻ em ở lứa tuổi này nhận thức thế giới chủ yếu thông qua cảm giác và
tri giác. Ở lứa tuổi này nhận thức cảm tính chiếm ưu thế. Những tài
liệu do nhận thức cảm tính cung cấp được xem như là một trong những cơ
sở của nguyên tắc trực quan trong giáo dục trẻ mầm non.

V. TÍNH NHẠY CẢM VÀ NĂNG LỰC QUAN SÁT:

Tính nhạy cảm là năng lực cảm giác nhạy bén, tinh vi, chính xác của con người. Tính nhạy cảm của con người không như nhau.

Năng
lực cảm giác chịu sự chi phối bởi nhiều yếu tố, trước hết là các đặc
điểm cấu tạo và chức năng của các giác quan, kiểu loại thần kinh… Song,
năng lực cảm giác của con người không hoàn toàn bẩm sinh mà được hình
thành phát và triển trong hoạt động, phụ thuộc vào việc rèn luyện và
giáo dục. Năng lực cảm giác chịu sự chi phối bởi nhiều phẩm chất tâm lý
của nhân cách: nhu cầu, hứng thú, khả năng chú ý, xu hướng, vốn kinh
nghiệm… năng lực cảm giác là nhân tố chủ yếu của năng lực quan sát.

Quan
sát là loại tri giác có chủ định, diễn ra tương đối độc lập và lâu dài,
nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt các sự vật hiện tượng và những biến đổi
của chúng. Năng lực quan sát của mỗi người một khác. Đó là khả năng tri
giác nhanh chóng và chính xác. Năng lực quan sát được hình thành trong
cuộc sống, do hoạt động, do luyện tập tích cực và có phương pháp.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:11 pm

Bài 7: TRÍ NHỚ

I. KHÁI NIỆM TRÍ NHỚ:

1. Trí nhớ là gì?
Trí
nhớ là quá trình tâm lý phản ánh vốn kinh nghiệm của con người dưới
hình thức biểu tượng bằng cách ghi nhớ, giữ gìn, nhận lại và nhớ lại
những điều mà con người đã trải qua.

2.Vai trò của trí nhớ:
Trí
nhớ có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống và hoạt động của con
người. Không có trí nhớ thì không có kinh nghiệm, không có kinh nghiệm
thì không thể có bất cứ một hoạt động nào, không thể phát triển tâm lý,
nhân cách con người.

II. CÁC QUÁ TRÌNH CƠ BẢN CỦA TRÍ NHỚ:

1. Quá trình ghi nhớ:
Ghi
nhớ là khâu đầu tiên của hoạt động trí nhớ. Đó là quá trình tạo nên dấu
vết của đối tượng trên vỏ não, đồng thời cũng là quá trình gắn tài liệu
mới vào chuỗi kinh nghiệm đã có của bản thân.

Có nhiều hình thức ghi nhớ.. Căn cứ vào mục đích của ghi nhớ ta có thể có ghi nhớ không chủ định và ghi nhớ có chủ định.

Ghi
nhớ không chủ định: Là loại ghi nhớ không cần phải đặt ra mục đích ghi
nhớ từ trước, không đòi hỏi phải nỗ lực ý chí hoặc dùng một cách thức
nào để ghi nhớ, tài liệu được ghi nhớ một cách tự nhiên.
Ghi nhớ
có chủ định: Là loại ghi nhớ theo một mục đích đã định từ trước, đòi
hỏi nỗ lực ý chí, lựa chọn các biện pháp, thủ thuật để ghi nhớ.
Có hai cách ghi nhớ có chủ định:

Ghi
nhớ máy móc: Là loại ghi nhớ dựa trên sự lặp đi lặp lại tài liệu nhiều
lần một cách đơn giản, tạo ra mối liên hệ bề ngoài giữa các phần của
tài liệu cần ghi nhớ không cần hiểu nội dung tài liệu đó.
Ghi nhớ
ý nghĩa: Là loại ghi nhớ dựa trên sự thông hiểu nội dung tài liệu, trên
sự nhận thức những mối liên hệ lôgíc giữa các bộ phận của tài liệu đó.

2. Quá trình giữ gìn:
Là quá trình lưu giữ những thông tin đã ghi nhớ bằng cách củng cố những dấu vết đã hình thành trên vỏ não.

Có hai hình thức giữ gìn là giữ gìn tiêu cực và giữ gìn tích cực.

Giữ gìn tiêu cực: Là sự giữ gìn dựa trên sự tri giác lặp đi lặp lại nhiều lần một cách đơn giản, thụ động tài liệu cần ghi nhớ.
Giữ gìn tích cực: Là sự giữ gìn bằng cách nhớ lại trong óc tài liệu đã ghi nhớ, không cần tri giác tài liệu đó.

3. Quá trình nhận lại và nhớ lại:
Nhận lại: Là khả năng nhận ra đối tượng nào đó trong điều kiện tri giác lại đối tượng đó.
Nhớ
lại: Là khả năng làm sống lại những hình ảnh sự vật, hiện tượng đã được
ghi nhớ trước đây trong não, khi sự vật hiện tượng không còn ở trước
mắt.
Nhận lại và nhớ lại đều có thể không chủ định và có chủ định.


4. Quên:
Quên là biểu hiện của sự không nhận lại hay nhớ lại được hoặc là nhận lại hay nhớ lại sai.

Trong một số trường hợp sự quên là cần thiết. Về một mặt nào đó quên là hiện tượng hợp lý và có ích.

III. CÁC LOẠI TRÍ NHỚ:
Có nhiều căn cứ để phân loại trí nhớ.

Căn
cứ vào nội dung phản ánh trong trí nhớ, người ta chia trí nhớ thành:
Trí nhớ vận động, trí nhớ cảm xúc, trí nhớ hình ảnh và trí nhớ từ ngữ
lôgíc.
Căn cứ vào tính chất mục đích của hoạt động trí nhớ được chia thành: Trí nhớ không chủ định và trí nhớ có chủ định.
Căn cứ vào thời gian củng cố và giữ gìn tài liệu mà phân biệt trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn.
Căn
cứ vào sự ưu thế, chủ đạo của giác quan nào trong trí nhớ mà người ta
có thể chia ra thành trí nhớ bằng mắt, trí nhớ bằng tai, trí nhớ bằng
tay…
Tất cả các loại trí nhớ có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau tạo nên một thể thống nhất trong kho tàng trí nhớ của con người.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:12 pm

BÀI 8: NHẬN THỨC LÝ TÍNH

Muốn
cải tạo thế giới, con người phải đạt tới mức độ nhận thức cao hơn nhận
thức cảm tính đó là nhận thức lý tính (bao gồm tư duy và tưởng tượng)

I. TƯ DUY:

1. Khái niệm:

duy là quá trình nhận thức phản ánh một cách gián tiếp, khái quát những
thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật của
sự vật và hiện tượng mà trước đó ta chưa biết.

2. Đặc điểm của tư duy:
A. Tính có vấn đề của tư duy:

Khi
gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà vốn hiểu biết cũ, phương pháp
hành động đã biết của con người không đủ để giải quyết, lúc đó con
người rơi vào “ hoàn cảnh có vấn đề “. Khi đó con người phải tư duy.

B. Tính khái quát của tư duy:


duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối liên hệ,
quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng.

C. Tính gián tiếp của tư duy:

Trong tư duy, con người phản ánh thế giới một cách gián tiếp – phản ánh bằng ngôn ngữ.

D. Tư duy có quan hệ mật thiết với ngôn ngữ:

Ngôn
ngữ là phương tiện của tư duy. Nhờ ngôn ngữ mà con người nhận thức được
hoàn cảnh có vấn đề, đặt ra được vấn đề cần giải quyết, nhờ ngôn ngữ mà
con người tiến hành các thao tác tư duy. Sản phẩm của tư duy là các
khái niệm, phán đoán, suy nghĩ được biểu đạt bằng từ ngữ.

E. Tư duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính:


duy và nhận thức cảm tính có quan hệ chặt chẽ bổ sung cho nhau, chi
phối lẫn nhau trong hoạt động nhận thức thống nhất. Tư duy thường được
bắt đầu từ nhận thức cảm tính, trên cơ sở nhận thức cảm tính mà nảy
sinh hoàn cảnh có vấn đề. Trong quá trình diễn biến, tư duy phải sử
dụng nguồn tài liệu do nhận thức cảm tính đem lại. Ngược lại, tư duy và
những kết quả của nó chi phối khả năng phản ánh của cảm giác và tri
giác làm cho khả năng cảm giác của con người tinh vi, nhạy bén hơn, làm
cho tri giác của con người mang tính lựa chọn, tính ý nghĩa.

3. Các loại tư duy:
Có nhiều cách phân loại tư duy. Nếu xét về phương diện hình thành và phát triển tư duy thì có thể chia thành ba loại tư duy:


duy trực quan - hành động là tư duy bằng các thao tác cụ thể tay chân,
hướng vào việc giải quyết một số tình huống cụ thể, trực quan.
Tư duy trực quan - hình ảnh là loại tư duy mà việc giải quyết vấn đề dựa vào các hình ảnh của sự vật, hiện tượng.

duy trừu tượng (tư duy ngôn ngữ – lôgíc) là loại tư duy phát triển ở
mức cao nhất, chỉ có ở con người. Đó là loại tư duy mà việc giải quyết
vấn đề dựa trên các khái niệm, các mối quan hệ lôgíc và gắn bó chặt chẽ
với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phương tiện.
Ba loại tư duy trên có
mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và chi phối Lẫn nhau, trong đó
tư duy trực quan – hành động, tư duy trực quan – hình ảnh là hai loại
tư duy có trước, làm cơ sở cho tư duy trừu tượng.

4. Các thao tác tư duy:
Quá trình tư duy được diễn ra bằng cách chủ thể tiến hành các thao tác nhất định. Có các thao tác sau:

Phân tích và tổng hợp:
Phân
tích là dùng hoạt động trí óc tách đối tượng tư duy thành những thuộc
tính, những bộ phận, những mối liên hệ, quan hệ để nhận thức đối tượng
sâu sắc hơn.

Tổng hợp là dùng trí óc đưa những thuộc tính,
những thành phần đã được phân tích thành một chỉnh thể, giúp ta nhận
thức đối tượng bao quát hơn.

Phân tích và tổng hợp quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung cho nhau.

So sánh:
So
sánh là dùng trí óc để xác định sự giống nhau, khác nhau giữa các sự
vật hiện tượng ( hoặc giữa các thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của
một sự vật, hiện tượng )

Trừu tượng hoá và khái quát hoá:
Trừu
tượng hoá là thao tác trí tuệ, trong đó chủ thể dùng trí óc gạt bỏ
những thuộc tính, những bộ phận, những quan hệ…không cần thiết về một
phương diện nào đó và chỉ giữ lại những yếu tố cần thiết để tư duy.

Khái
quát hoá là thao tác trí tuệ trong đó chủ thể tư duy dùng hoạt động trí
óc để bao quát nhiều đối tượng khác nhau thành một nhóm, một loại…trên
cơ sở đó chúng có một số thuộc tính chung và bản chất, những mối quan
hệ có tính quy luật.

Hai thao tác tư duy này có quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và bổ sung cho nhau.

II. TƯỞNG TƯỢNG:

1. Khái niệm chung về tưởng tượng:
Tưởng
tượng là quá trình nhận thức phản ánh những cái chưa có trong kinh
nghiệm bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những hình ảnh
( biểu tượng ) đã có.

Về nội dung phản ánh: Tưởng tượng phản
ánh những cái mới chưa có trong kinh nghiệm của cá nhân hoặc của xã
hội, do chủ thể xây dựng nên trên cơ sở những biểu tượng đã biết.

Về phương thức phản ánh: Tưởng tượng tạo ra những biểu tượng mới trên cơ sở những biểu tượng đã biết.

Sản
phẩm của quá trình tưởng tượng là các biểu tượng của tưởng tượng. Đó là
hình ảnh mới, khái quát hơn, do con người tạo ra trên cơ sở biểu tượng
của trí nhớ.

Như vậy tưởng tượng thuộc bậc thang nhận thức lý
tính: nó hướng vào việc giải quyết các tình huống có vấn đề, phản ánh
những cái mới, cái chưa biết, mang tính khái quát, tính gián tiếp, có
liên hệ mật thiết với nhận thức cảm tính, với ngôn ngữ và lấy thực tiễn
làm tiêu chuẩn chân lý.

2. Phân loại tưởng tượng:
Căn cứ vào mức độ của tưởng tượng có thể chia tưởng tượng thành tưởng tượng không chủ định và tưởng tượng có chủ định.

Tưởng tượng không chủ định: Là loại tưởng tượng không theo một mục đích trước.
Tưởng
tượng có chủ định: Là loại tưởng tượng theo một mục đích đặt ra từ
trước, có kế hoạch và phương pháp nhất định nhằm tạo ra hình ảnh mới.
Tưởng có chủ định thể hiện ở hai mức độ: Tưởng tượng tái tạo và tưởng tượng sáng tạo.

Tưởng
tượng tái tạo là quá trình tạo ra những hình ảnh mới đối với cá nhân
người tưởng tượng, dựa trên sự mô tả của người khác hoặc của sách vở,
tài liệu…
Tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng nên những
hình ảnh mới chưa có trong kinh nghiệm cá nhân, cũng như chưa có trong
xã hội.
Ước mơ là một loại tưởng tượng đặc biệt của con người,
loại tưởng tượng tổng quát hướng về tương lai, biểu hiện những mong
muốn, ước ao, gắn liền với nhu cầu của con người.
3. Các cách sáng tạo hình ảnh mới trong tưởng tượng:
Có nhiều cách sáng tạo hình ảnh mới bằng tưởng tượng:

Tách
từ một hình tượng trọn vẹn của một đối tượng có thực lấy ra một yếu tố,
một thuộc tính nào đó tạo thành một biểu tượng mới.
Thay đổi kích
thước, độ lớn, số lượng các thuộc tính, các thành phần của đối tượng…
nhằm làm tăng lên hay giảm đi hình dáng của nó so với hiện thực.
Nhấn mạnh một tính chất, hoặc một bộ phận nào đó của đối tượng, hoặc gắn thêm cho tính chất đó những ý nghĩa đặc biệt.
Chắp ghép là cách tạo ra biểu tượng mới bằng cách chắp ghép một số bộ phận của các sự vật khác nhau.
Liên
hợp có nhiều mặt giống với chắp ghép, nhưng khi tham gia vào việc tạo
ra một hình ảnh mới thì các yếu tố ban đầu bị cải tổ đi.
Điển hình
hoá là phương pháp tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở tổng hợp sáng
tạo của các thuộc tính điển hình là cái đại diện cho hàng loạt đối
tượng.
Loại suy là cách tạo ra những hình ảnh mới trên cơ sở mô phỏng, bắt chước những chi tiết, những bộ phận, những sự vật có thực.
Trên
thực tế, trong quá trình tưởng tượng, các cách sáng tạo nói trên kết
hợp với nhau, bổ sung cho nhau làm cho phương thức hoạt động tưởng
tượng vô cùng phong phú và độc đáo.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
xin làm một điểm tựa
Admin
avatar

Tổng số bài gửi : 411
Join date : 18/06/2009
Age : 29
Đến từ : heart

Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   Thu Jun 25, 2009 10:13 pm

BÀI 9: TÌNH CẢM VÀ Ý CHÍ

I. TÌNH CẢM:

1. Khái niệm:
Tình
cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm của con người đối với những
sự vật, hiện tượng cò liên quan đến nhu cầu và động cơ của họ.

Tình
cảm được hình thành và biểu hiện qua xúc cảm. Xúc cảm và tình cảm đều
biểu thị thái độ của con người đối với thế giới, nhưng là hai mức độ
khác nhau, mặc dù chúng gắn bó chặt chẽ với nhau trong sự rung cảm của
con người.

Xúc cảm
Có cả ở người và động vật
Có trước
Là quá trình tâm lý
Ở trạng thái hiện thực
Có tính nhất thời, biến đổi phụ
Thuộc vào tình huống.

Tình cảm
Chỉ có ở con người
Có sau
Là thuộc tính tâm lý
Vừa hiện thực vừa tiềm tàng
có tính ổn định, lâu bền

2. Các mức độ của tình cảm và các loại tình cảm:
a. Các mức độ của đời sống tình cảm:

Tình
cảm có nhiều mức độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp, từ nhất thời đến ổn định, từ cụ thể đến khái quát. Các mức độ đó
là:

Màu sắc xúc cảm của cảm giác: Đây là mức độ thấp nhất của cảm xúc, nó là một sắc thái cảm xúc đi kèm theo quá trình cảm giác.
Xúc
cảm: Là mức độ rung cảm cao hơn màu sắc xúc cảm của cảm giác. Xúc cảm
có những đặc điểm là xảy ra nhanh, cường độ tương đối mạnh, có tính
khái quát và được chủ thể ý thức rõ rệt. Ở mức độ xúc cảm có hai biểu
hiện khác nhau là xúc động và tâm trạng.
Xúc động là một dạng xúc
cảm có cường độ mạnh, xảy ra trong thời gian ngắn và có khi chủ thể
không làm chủ được bản thân. Tâm trạng là một trạng thái xúc cảm có
cường độ vừa phải hoặc yếu, tồn tại trong một thời gian tương đối dài,
ảnh hưởng đến toàn bộ hành động của con người.

Say mê là một trạng thái tình cảm mạnh, lâu, sâu sắc và bền vững.

Tình cảm là thái độ ổn định của con người đối với hiện thực, là một thuộc tính tâm lý bền vững của nhân cách.
b. Các loại tình cảm:

Có nhiều cách phân loại tình cảm, có thể phân chia tình cảm thành: tình cảm cấp thấp và tình cảm cấp cao.

Tình cảm cấp thấp có liên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu có tính chất sinh vật, sinh lý và có tính vật chất.

Tình cảm cấp cao có liên quan đến việc thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu tinh thần. Tình cảm cấp cao bao gồm:

Tình
cảm đạo đức: biểu thị thái độ của con người đối với yêu cầu của đạo đức
xã hội, , trong mối quan hệ đối với những người khác, đối với tập thể,
đối với trách nhiệm xã hội của bản thân.
Tình cảm trí tuệ: biểu
thị thái độ của con người đối với các ý nghĩ, tư tưởng, các nhu cầu
nhận thức. Tình cảm trí tuệ bao gồm: sự ham hiểu biết, sự hoài nghi, sự
hài lòng …
Tình cảm thẩm mỹ: là thái độ rung cảm của con người đối với cái đẹp trong thiên nhiên, xã hội, trong nghệ thuật, văn học.
Tình
cảm hành động thực tiễn: tình cảm này thể hiện thái độ của con người
đối với hành động liên quan đến sự thoả mãn hay không thoả mãn nhu cầu
thực hiện hành động đó.
Tình cảm mang tính chất thế giới quan: là
mức độ cao nhất của tình cảm con người. Loại tình cảm này thường được
diễn đạt bằng các từ “tinh thần”, “ chủ nghĩa”…
Các loại tình cảm
trên có mối quan hệ qua lại, bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau tạo
nên sự phong phú của đời sống tình cảm con người.

3. Các quy luật của đời sống tình cảm:
Cũng như mọi hiện tượng tâm lý của con người, tình cảm diễn ra theo quy luật của nó.

a. Quy luật thích ứng:
Trong lĩnh vực tình cảm, nếu một tình cảm nào đó cứ lặp đi lặp lại
nhiều lần một cách đơn điệu thì một lúc nào đó có hiện tượng thích ứng
mang tính chất “ chai dạn “ của tình cảm.

b. Quy luật cảm ứng:
Trong quá trình hình thành và biểu hiện tình cảm, sự xuất hiện hoặc suy
yếu đi của một tình cảm này có thể làm tăng hoặc giảm một tình cảm khác
xảy ra đồng thời hoặc nối tiếp với nó.

c. Quy luật pha trộn:
Trong đời sống tình cảm của một con người cụ thể, nhiều khi hai tình
cảm đối cực nhau có thể xảy ra cùng một lúc nhưng không loại trừ nhau,
chúng “pha trộn” vào nhau.

d. Quy luật di chuyển: Tình cảm có thể di chuyển từ đối tượng này sang đối tượng khác có liên quan với đối tượng gây ra tình cảm trước đó.

e. Quy luật lây lan: Trong mối quan hệ tình cảm có hiện tượng vui “lây“, buồn “lây” hoặc “đồng cảm “, “cảm thông” giữa người này với người khác.

g. Quy luật về sự hình thành tình cảm:
Xúc cảm là cơ sở của tình cảm. Tình cảm được hình thành do quá trình
tổng hợp hoá, động hình hoá và khái quát hoá những xúc cảm cùng loại.

II. Ý CHÍ:

1. Khái niệm ý chí:
a. Ý chí là gì?

Ý
chí là mặt năng động của ý thức, biểu hiện ở năng lực thực hiện những
hành động có mục đích, đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn,
trở ngại để thực hiện đến cùng mục đích đã được xác định.

b. Các phẩm chất ý chí của nhân cách:

Tính mục đích.
Tính độc lập.
Tính quyết đoán.
Tính bền bỉ.
Tính chủ động.
2. Hành động ý chí:
a. Hành động ý chí là gì?

Hành
động ý chí là hành động có ý thức, có chủ tâm của con người, đòi hỏi sự
nỗ lực khắc phục khó khăn, trở ngại bên ngoài cũng như bên trong để đạt
mục đích đã đặt ra.

b. Cấu trúc của hành động ý chí:

Trong một hành động ý chí điển hình có ba thành phần cơ bản (ba giai đoạn) sau đây:

Giai đoạn chuẩn bị: Giai đoạn này gồm các khâu:
Đặt ra và ý thức rõ ràng mục đích của hành động.
Lập kế hoạch và lựa chọn phương tiện, phương pháp hành động.
Quyết định hành động.
Trong giai đoạn này, con người phải đấu tranh để vượt qua mọi khó khăn trở ngại.

Giai
đoạn thực hiện: Trong quá trình thực hiện hành động có thể gặp những
khó khăn trở ngại mà con người chưa lường trước được, đòi hỏi phải nỗ
lực ý chí để vượt qua nhằm thực hiện hành động đạt mục đích đã định.
Giai
đoạn đánh giá kết quả hành động: Khi kết thúc hành động con người đối
chiếu kết quả với mục đích đã định. Khi kết quả của hành động phù hợp
với mô hình về mục đích của hành động thì hành động kết thúc.
Các giai đoạn trên có liên quan hữu cơ, tiếp nối nhau, là tiền đề của nhau.

3. Hành động tự động hoá (Kỹ xảo và thói quen):
a. Hành động tự động hoá là gì?

Hành
động tự động hoá vốn là hành động có ý thức, có ý chí nhưng do lặp đi
lặp lại nhiều lần, hoặc do luyện tập mà nó trở thành tự động hoá, không
cần có sự kiểm soát trực tiếp của ý thức mà vẫn được thực hiện có kết
quả.

Có hai loại hành động tự động hoá: Kỹ xảo và thói quen.

Kỹ xảo: Là loại hành động có ý thức được tự động hoá nhờ luyện tập.
Thói quen: Là loại hành động tự động hoá đã trở thành nhu cầu của con người.
b. Quy luật hình thành kỹ xảo:

Quá trình hình thành kỹ xảo diễn ra theo các quy luật sau đây:

+Quy luật tiến bộ không đồng đều. Nghĩa là:
Có loại kỹ xảo khi mới luyện tập thì tiến bộ rất nhanh, sau đó chậm lại.

Có những kỹ xảo khi bắt đầu luyện tập sự tiến bộ chậm, nhưng đến một giai đoạn nhất định nó lại tăng nhanh.

Có những trường hợp khi bắt đầu luyện tập thì sự tiến bộ tạm thời lùi lại, sau đó tăng dần.

+Quy luật “ đỉnh” của phương pháp luyện tập:
Mỗi phương pháp luyện tập kỹ xảo chỉ đem lại một kết quả cao nhất đối với nó, gọi là “ đỉnh “ của phương pháp đó.

+Quy luật về sự tác động qua lại giữa kỹ xảo cũ và kỹ xảo mới: Sự tác động này diễn ra theo hai chiều hướng:
Kỹ xảo cũ ảnh hưởng tốt, có lợi cho việc hình thành kỹ xảo mới. Đó là sự di chuyển kỹ xảo (còn gọi là “cộng” kỹ xảo).
Kỹ xảo cũ ảnh hưởng xấu, gây trở ngại, khó khăn cho sự hình thành kỹ xảo mới. Đó là hiện tượng giao thoa kỹ xảo.
+Quy luật dập tắt kỹ xảo:
Một
kỹ xảo đã được hình thành nếu không luyện tập củng cố và sử dụng thường
xuyên có thể bị suy yếu và cuối cùng bị mất đi, đó là sự dập tắt kỹ xảo.
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Tâm lý học đại cương   

Về Đầu Trang Go down
 
Tâm lý học đại cương
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
NGÔI NHÀ TRÁI TIM :: TÂM LÝ - GIÁO DỤC HỌC :: Kiến thức chuyên ngành :: Tâm lý học :: Tâm lý học đại cương-
Chuyển đến